Thông tin nhanh
- Năm sinh
- 1938
Tiểu sử
Ca Lê Thuần (1 tháng 4 năm 1938 – 20 tháng 1 năm 2017) là nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc, nhà sư phạm âm nhạc, đại biểu quốc hội người Việt Nam. Ca Lê Thuần được đánh giá là một nhà âm nhạc học và là nhà lý luận âm nhạc hàng đầu Việt Nam. Phần lớn các sáng tác, công trình nghiên cứu của ông đều có giá trị, đóng góp nhất định cho nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu của ông và các đồng nghiệp là nền tảng, được phát triển thành hệ thống giáo trình giảng dạy âm nhạc tại các cơ sở đào tạo âm nhạc Việt Nam về sau.
Thân thế Ca Lê Thuần sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938 tại làng Tân Thành Bình, tổng Minh Đạt, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre (nay là xã Tân Thành Bình, tỉnh Vĩnh Long). Cha ông là giáo sư Ca Văn Thỉnh, một nhà giáo, người nghiên cứu lịch sử và là nhà văn có nhiều trọng trách trong Chính phủ Việt Nam thời kì Chiến tranh Đông Dương. Mẹ ông là một nhà giáo Lê Thị Tài. Những anh chị em ruột của Ca Lê Thuần khi trưởng thành hầu hết đều hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật. Trong đó đáng chú ý là Lê Anh Xuân (tên thật là Ca Lê Hiến), một nhà thơ và là chiến sĩ Cách mạng. Trong một số tác phẩm âm nhạc, Ca Lê Thuần đã lấy cảm hứng hoặc phổ nhạc một số bài thơ của em trai mình. Ca Lê Thuần còn có em gái là nữ đạo diễn Ca Lê Hồng, em trai là họa sĩ Ca Lê Thắng. Từ nhỏ, ông đã tỏ ra là người có năng khiếu âm nhạc và chơi một số nhạc cụ như mandolin, guitar, accordeon, saxophone. Những sáng tác đầu tay cho của Ca Lê Thuần là nhạc múa, tác phẩm phối dàn nhạc hoặc một số ca khúc. Những điệu hò vùng sông nước Bến Tre đã ảnh hưởng rất lớn đến ngôn ngữ âm nhạc của ông sau này.
Sự nghiệp
Những năm đầu Sau hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra miền Bắc Việt Nam ở tuổi 16. Ban đầu, ông làm diễn viên Đoàn Văn công Quân giới phân khu miền Tây Nam Bộ. Thời gian sau, ông chuyển về Đoàn Văn công quân đội Nam Bộ, sau đó là Đoàn Văn công Sư đoàn 330. Trong thời gian này, ngoài nhiệm vụ là diễn viên chơi một số nhạc cụ, ông đã mắt đầu mày mò tập sáng tác một số ca khúc hoặc viết phần nhạc cho các tiết mục múa. Nhằm đào tạo cán bộ cho khu vực Nam Bộ, năm 1956 Ca Lê Thuần được tổ chức đi học văn hóa tại trường bổ túc văn hóa Công Nông. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, ông quyết định theo học âm nhạc từ năm 1957. Thời điểm này Trường âm nhạc Việt Nam vừa thành lập được 1 năm, ông lập tức trở thành học sinh khóa 2 chuyên ngành Sáng tác của trường.
Du học và trở về nước giảng dạy Từ năm 1954, Nhà nước Việt Nam đã cử rất nhiều thanh niên có năng khiếu âm nhạc đi học ở nước ngoài nhằm phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp của nước nhà. Do đó, năm 1959, Ca Lê Thuần được sang học sáng tác và lý luận tại Nhạc viện Odessa (thuộc Liên Xô cũ, nay là Ukraina). Năm 1964, do yêu cầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, Ca Lê Thuần về nước và tham gia công tác giảng dạy tại Trường Âm nhạc Việt Nam cùng nhiều lưu học sinh văn hóa – nghệ thuật đang được đào tạo ở nước ngoài. Vào thời điểm này, Trường Âm nhạc Việt Nam vẫn thành lập chưa được bao lâu, do đó đội ngũ giảng viên và chương trình, giáo trình cùng cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tạm bợ. Ca Lê Thuần và nhiều nhạc sĩ ở nước ngoài về đã cùng nhau xây dựng các chương trình, giáo trình các môn kiến thức âm nhạc một cách bài bản tại đây. Vốn được đào tạo chuyên sâu về kiến thức hòa thanh và phức điệu trong âm nhạc, Ca Lê Thuần đã có nhiều công lớn trong việc xây dựng chương trình của 2 môn học này ở Nhạc viện Hà Nội. Ông còn trực tiếp đào tạo sinh viên thuộc hai chuyên ngành này tham gia đội ngũ cho cả Nhạc viện Hà Nội và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Trong hoàn cảnh khó khăn ở nơi sơ tán khi Chiến tranh Việt Nam xảy ra, Ca Lê Thuần vừa làm công tác giảng dạy vừa tiếp tục công việc sáng tác. Từ năm 1965 đến năm 1968, Ca Lê Thuần đã viết trên 20 tiểu phẩm khí nhạc Prelude, Polyphonie, Fugue và đều trở thành những bài học trong giáo trình giảng dạy piano của Nhạc viện Hà Nội và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1972, Ca Lê Thuần tiếp tục trở lại Nhạc viện Odessa để hoàn thành chương trình học đang dang dở. Trong thời gian này, ông hoàn thành một số tác phẩm khí nhạc cho đàn violin, piano, trong đó đặc biệt là tác phẩm giao hưởng "Dáng đứng Việt Nam" năm 1974. Ông tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Lý luận âm nhạc với luận văn "Lý thuyết âm nhạc". Sau khi tốt nghiệp, ông về nước vào tháng 9 cùng năm và làm trưởng khoa Lý luận – Sáng tác – Chỉ huy tại Nhạc viện Hà Nội. Năm 1975, sau khi Việt Nam giành được độc lập hoàn toàn, Ca Lê Thuần trở về miền Nam để công tác tại Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Ban đầu, ông làm trưởng khoa Lý luận – Sáng tác – Chỉ huy nhưng nhanh chóng trở thành phó giám đốc Nhạc viện này. Trong thời gian công tác tại đây, ông đã có nhiều đóng góp trong việc phát triển Nhạc viện từ cơ sở đào tạo âm nhạc chế đệ cũ thiếu chuyên nghiệp tới một trung tâm đào tạo âm nhạc lớn tại Việt Nam.