
Thông tin nhanh
- Ngày sinh
- 03 · 04 · 1942
Tiểu sử
Chế Linh (sinh ngày 3 tháng 4 năm 1942) là một ca sĩ và nhạc sĩ nhạc vàng người Việt Nam gốc Chăm. Ông được xem là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng thời kỳ đầu ("Tứ trụ nhạc vàng"), cùng với Duy Khánh, Nhật Trường và Hùng Cường. Khi viết nhạc, ông dùng hai bút danh Tú Nhi, Lưu Trần Lê.
Cuộc đời
Thời niên thiếu Chế Linh tên thật là Jamlen (Chà-len), tên Việt là Lưu Văn Liên, sinh ngày 3 tháng 4 năm 1942 tại Paley Hamu Tanran, gần Phan Rang (nay thuộc Khánh Hòa), trong một gia đình người Chăm. Ông mất cha khi mới 4 tuổi và theo học bậc tiểu học chương trình Pháp tại trường làng trước khi học trung học tại trường Bồ Đề Phan Rang. Năm 1958, khi Chế Linh 16 tuổi, Tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành chính sách cấm, không cho dạy tiếng Chăm trong các làng Chăm, dù tiếng Chăm là ngôn ngữ được người Chăm tôn trọng và từng được coi là ngôn ngữ thứ hai từ thời Bảo Đại. Việc này góp phần tạo ra sự bất bình và xung đột giữa cộng đồng người Chăm và người Kinh, và trong một số lần va chạm, Chế Linh từng bị thương trong những sự kiện tương tự. Sau những biến cố tại địa phương, tháng 8 năm 1959, ông vào Sài Gòn một mình để mưu sinh. Khi mới đến, ông làm việc cho một ông chủ người Việt gốc Hoa rất tốt bụng — người này đã giúp đỡ Chế Linh đi học và trả lương hậu cho ông làm việc trong nhà như nấu ăn và trông con giúp. Sau chín tháng làm việc, ông dành dụm được một số tiền và quyết định quay lại việc học tại trường Bồ Đề rồi sau đó là trường Nguyễn Công Trứ và trường Chu Văn An - nơi ông học chung và kết thân với 2 người về sau cũng là những nghệ sĩ nổi tiếng là ca sĩ Giang Tử và nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn.
Bắt đầu sự nghiệp ca hát
Năm 1962, đoàn văn nghệ Biệt Chính Biên Hòa tuyển ca sĩ theo đoàn đi hát trong các miệt làng xa tại Biên Hòa. Chế Linh đã theo đoàn này hát cùng với Châu Kỳ, Trúc Phương vì tiền lương rất nhiều. Hai năm sau, đoàn văn nghệ tan rã, Chế Linh chuyển sang làm tài xế chở đá tại núi Bửu Long (Biên Hòa) chung với nhạc sĩ Bằng Giang. Vừa làm việc, vừa luyện giọng và viết nhạc – tình yêu âm nhạc đã bắt đầu nảy nở trong Chế Linh. Nhạc sĩ Bằng Giang là người hiểu rõ ý định của Chế Linh nên khi nhận thấy ông đủ sức đã khuyên ông theo nghề ca hát. Nhiều bài hát nổi tiếng được ông cùng Bằng Giang sáng tác như Bài ca kỷ niệm, Đêm buồn tỉnh lẻ, Đoạn tái bút,... Khoảng một năm sau, Châu Kỳ và Trúc Phương tìm ra chỗ ở của Chế Linh và khuyên ông trở về Sài Gòn. Hai nhạc sĩ quyết định sáng tác cho riêng Chế Linh những nhạc phẩm về lính, không nhắm đặc biệt vào một binh chủng nào và lời ca dễ hiểu. Năm 1964, Chế Linh hợp tác với hãng dĩa Continental cho ra đời đĩa than đầu tay Vùng biển trời và màu áo em và sau đó ký hợp đồng với hãng Dĩa Hát Việt Nam. Mặc dù ca sĩ nữ song ca đầu tiên với ông là Thanh Tâm, nhưng Thanh Tuyền mới là người song ca ăn ý nhất. Khoảng 1967–1968, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì muốn có sự thay đổi và nhất là tránh cho thính giả nhàm chán với những nhạc phẩm đơn ca nên ông đã đưa ra sáng kiến là để Thanh Tuyền song ca với Chế Linh. Đĩa hát đầu tiên trong đó có nhạc phẩm Hái hoa rừng cho em của Trương Hoàng Xuân được tung ra thị trường và trở nên ăn khách một cách không ngờ. Những hãng đĩa khác sau đó đã tiếp tục khai thác cặp đôi song ca này. Năm 1972, Chế Linh đoạt giải Kim Khánh – Huy chương vàng đệ nhất hạng nam ca, do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Vào mùa hè đỏ lửa 1972, Chế Linh bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cấm hát vì lời hát không phù hợp.
Định cư ở nước ngoài Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt tại ga Sông Mao, Hải Ninh, Bắc Bình (nay là xã Hải Ninh, tỉnh Lâm Đồng) vì tội "phản động". Sau 28 tháng biệt giam, ông vượt biên thành công sang Malaysia, sau đó định cư tại Toronto, Canada. Tại đây, ông mở vài cơ sở kinh doanh và trình diễn nhiều nơi có người Việt cư ngụ. Từ năm 1980, ông bắt đầu sáng tác trở lại, tham gia biểu diễn, cũng như thâu âm cho nhiều trung tâm ca nhạc hải ngoại lớn như Làng Văn, Asia, Thúy Nga, Giáng Ngọc, Thanh Lan, Phượng Hoàng, Vân Sơn, Mây... Năm 2007, lần đầu tiên ông theo một đoàn văn hóa của UNESCO về thăm lại và biểu diễn tại Việt Nam. Năm 2011, ông tổ chức liveshow 30 năm tái ngộ tại Hà Nội. Trong những năm sau đó, ông nhiều lần trở lại Việt Nam để du lịch và biểu diễn. Tính đến hiện tại, ông là ca sĩ nhạc vàng lớn tuổi nhất vẫn biểu diễn trên sân khấu.
Gia đình Năm 21 tuổi, Chế Linh lấy người vợ đầu tiên và có 5 đứa con sau 4 năm chung sống. Khi đứa con thứ 5 vừa biết đi chập chững thì Chế Linh ly dị người vợ đầu để cưới người vợ thứ hai là em gái của vợ trước. Chế Linh sống với người vợ thứ hai này được 4 năm và sinh tiếp 4 đứa con. Năm 1972, Chế Linh cưới người vợ thứ ba là Thúy Hằng mới 17 tuổi. Ông có thêm 2 người con với người vợ này. Năm 20 tuổi, bà Thúy Hằng tự sát. Cuối năm 1975, Chế Linh tổ chức đám cưới với bà Vương Nga và có thêm 3 đứa con. Vào ngày 25 tháng 12 năm 2025, cháu nội của ông là Quỳnh Anh (con gái của ca sĩ Chế Phong), kết hôn với cháu nội của cố nghệ sĩ Tấn Tài là Tấn Lộc (con trai của danh hài Tấn Beo). Vì thế, Chế Phong và Tấn Beo là thông gia với nhau.
Sáng tác Về bút danh Tú Nhi khi sáng tác nhạc, Chế Linh cho biết có nghĩa là đứa trẻ khôi ngô, tuấn tú vì "Tôi thích cái tên đó. Khi tôi còn nhỏ xíu, người ở trong làng thường bảo thằng bé này dễ thương". Còn bút danh Lưu Trần Lê, ông giải thích "Bút danh này ghép từ họ của tôi với họ của người vợ thứ nhất và người vợ thứ nhì". Những bài có dấu * ký bút hiệu Lưu Trần Lê.
Album nhạc Không tính các đĩa 45 vòng.
Trước 1975 7-1973: Chế Linh và Tình bơ vơ (Dĩa Hát Việt Nam phát hành) 1973: Chế Linh 1 - Tiếng hát Chế Linh (Khai Sáng phát hành) 4-1974: Chế Linh 2 - Tình khúc đoạn trường (Khai Sáng phát hành) 21-9-1974: Chế Linh đặc biệt - Mùa thu lá bay (Khai Sáng phát hành) 3-1975: Chế Linh 4 - Xin yêu tôi bằng tình người (Khai Sáng phát hành)