Tiểu sử
Đoàn Văn Khâm (chữ Hán: 段文欽 1020 - 1094) đỗ Thái học sinh thời nhà Lý, là nhà thơ, danh thần, Thượng thư Bộ Công đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128).
Gia thế và dòng tộc Đoàn Văn Khâm quê gốc ở Tô Xuyên (nay là xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên). Là con của Đoàn Văn Liễn (tướng nhà Đinh và Tiền Lê), cháu của Đoàn Văn Lan (thuộc tướng của sứ quân Trần Lãm và khai quốc công thần nhà Đinh), chắt của Đoàn Huy Lượng (tướng nhà Ngô) và chút của Đoàn Liêm Duy (thuộc tướng của Khúc Thừa Dụ). Họ Đoàn của ông quê gốc ở xã Phùng Nguyên, tỉnh Phú Thọ sau lại di cư sang khu vực huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Sau khi Lê Đại Hành đánh thắng giặc Tống đã tặng cho Đoàn Văn Liễn, người có công trạng lớn trong việc dẹp giặc, câu đối:
"Bình Tống huân danh tại Phù Lê sử sách thùy"
Dịch nghĩa:
Dẹp giặc Tống, danh tiếng còn đây Phò tá nhà Lê, sách sử còn truyền
Khi Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế, Đoàn Văn Liễn được cấp đất ở Tô Xuyên làm thái ấp do có công ủng hộ và đưa Lý Công Uẩn lên ngai vàng. Năm 1020, phu nhân Lý thị hạ sinh Đoàn Văn Khâm tại thái ấp. Đoàn Văn Khâm còn có một người em trai là Đoàn Duy Hải, sau kế tập cha lãnh thái ấp Tô Xuyên.
Quan nghiệp Đoàn Văn Khâm đỗ Thái học sinh (tương đương Tiến sĩ) trong khoa thi Nho học đầu tiên của Việt Nam - khoa Minh kinh bác học năm Ất Mão 1075 đời vua Lý Nhân Tông. Tháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám, năm đó Lê Văn Thịnh đỗ đầu - tương đương Trạng nguyên). Đoàn Văn Khâm đỗ thứ 2 (tương đương Bảng nhãn). Ngay sau khi đỗ đại khoa, ông được vua Lý Nhân Tông bổ nhiệm luôn vào chức Công Bộ Thượng thư năm 1075. Tại Việt Nam, chức Thượng thư được đặt ra lần đầu tiên vào triều nhà Lý. Đời vua Lý Nhân Tông, có các vị thượng thư: Đoàn Văn Khâm, Mạc Hiển Tích...
Tác phẩm Tuy làm đến Thượng thư nhưng ông vẫn luôn có ý muốn từ quan. Ông là một cư sĩ mộ đạo Phật, thường quấn khăn vải, mặc áo nâu và hay giao du với khách thiền lâm. Ông thường làm thơ, được người đương thời khen tặng nhưng nay đã thất lạc gần hết (do lịch sử). Đến nay ghi nhận còn lại được 4 bài thơ viết bằng chữ Hán. Trong đó có 3 bài được chép trong Hoàng Việt thi tuyển do Bùi Huy Bích sưu tập, đó là: Bài 1. Tặng Quảng Trí Thiền sư (Tặng Thiền sư Quảng Trí). Bài 2. Vãn Quảng Trí Thiền sư (Viếng Thiền sư Quảng Trí). Bài 3. Truy điệu Thiền sư Chân Không. Cũng theo Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích thì Thiền sư Quảng Trí họ Nhan, năm thứ nhất niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059) sư từ bỏ thế tục đến tham vấn Thiền Lão ở Tiên Du. Nhờ một câu nói của Thầy, sư nhận được yếu chỉ, từ đó dốc sức vào thiền học. Về sau sư trụ trì chùa Quán Đỉnh núi Không Lộ, kết bạn với tăng Minh Huệ, người đời cho là Hàn Sơn, Thập Đắc tái thế. Công Bộ Thượng thư Đoàn Văn Khâm làm bài thơ trên thương tiếc khi sư quy tịch (khoảng niên hiệu Quảng Hựu 1085-1091). Và bài thứ 4 là Gửi Tĩnh-giới Thiền sư ở núi Bí-linh thuộc Nghệ-an được chép trong sách Kiến văn tiểu lục của Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Qua mấy bài thơ còn lại, có thể thấy Đoàn Văn Khâm là người đức hạnh cao, rất hâm mộ đạo Phật và cũng là nhà thơ xuất sắc đời bấy giờ.
Bài 1: Tặng Quảng Trí Thiền sư Nguyên văn chữ Hán:
贈廣智禪師 拄錫危峰擺六塵, 默居幻夢問浮雲。 殷勤無計參澄什, 索絆簪纓在鷺群。 Phiên âm:
Tặng Quảng Trí Thiền sư Trụ tích nguy phong bãi lục trần(1), Mặc cư huyễn mộng vấn phù vân. Ân cần vô kế tham Trừng, Thập(2), Sách bạn trâm anh tại lộ quần(3). Dịch nghĩa:
Tặng Thiền sư Quảng Trí Chống gậy Thiền trên núi cao, rũ sạch bụi trần, Lặng lẽ trong cảnh mộng ảo, chỉ hỏi áng mây trôi. Rất thiết tha nhưng không cách nào theo học được Trừng, Thập, Vì đã trót vướng trâm oanh trong bầy cò. Bản dịch của Đoàn Trọng Hân:
Tặng Thiền sư Quảng Trí Chống gậy lên non, rũ bụi trần, Cô sầu mộng ảo, hỏi phù vân. Bao lần những muốn theo Trừng, Thập, Trót vướng trâm anh, nợ khách trần. - Chú thích: (1) lục trần: Danh từ nhà Phật, tức: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Theo "Pháp giới thứ đệ" thì trần là dơ bẩn, có thể làm cho tâm linh người ta bị hoen ố, nên người tu hành cần phải bỏ hết lục trần. (2) Trừng, Thập: Trừng, Thập tức là Phật Đổ Trừng và Cưu Ma La Thập, hai vị sư nổi tiếng người Thiên Trúc đến Trung Quốc vào đời Hậu Tấn, thường du hành thuyết pháp, viết rất nhiều kinh Phật. (3) lộ quần: Nghĩa đen là đàn cò. Giống cò này thường bay từng đàn, có hàng ngũ thứ tự, nên văn ngôn dùng danh từ này để tượng trưng triều thần sắp hàng ngũ đứng chầu vua.
Bài 2: Vãn Quảng Trí Thiền sư Nguyên văn chữ Hán:
挽廣智禪師 林巒白首遁京城, 拂袖高山遠更馨。 幾願淨巾趨丈席, 忽聞遺履掩禪扃。 齋庭幽鳥空啼月, 墓塔誰人為作銘。 道侶不須傷永別, 院前山水是真形。 Phiên âm:
Vãn Quảng Trí Thiền sư Lâm loan bạch(1) thủ độn kinh thành, Phất tụ cao sơn viễn cánh hinh. Kỷ nguyện tịnh cân xu trượng tịch, Hốt văn di lý(2) yểm thiền quynh. Trai đình(3) u điểu không đề nguyệt, Mộ tháp thuỳ nhân vị tác minh. Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt, Viện tiền sơn thủy thị chân hình. Dịch nghĩa:
Viếng Thiền sư Quảng Trí Xa lánh kinh thành, vào nơi rừng núi cho đến bạc đầu, Phất tay áo trên núi cao, càng xa càng ngát thơm. Đã mấy lần (tôi) những muốn chít khăn tu hành đến hầu bên chiếu, (Thế mà nay) bỗng nghe nhà sư qua đời, cửa chùa đã khép kín. Trước sân chùa, tiếng chim khuya khắc khoải kêu dưới bóng trăng. Có ai vì người mà đề bài minh vào ngọn tháp trên mộ? Các bạn tu hành chớ nên đau thương về nỗi vĩnh biệt, Sông núi trước chùa, chính là hình ảnh chân thực của người. Dựa theo Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng: