Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Dương Quân

Dương Quân

Dương Quân
Loại
Người

Thông tin nhanh

Ngày sinh
08 · 08 · 1926

Tiểu sử

Dương Quân - Nhà thơ trào phúng. Tên thật là Dương Tự Cường. Ông sinh ngày 8 tháng 8 năm 1926 (Bính Dần) tại xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Mất ngày 3 tháng 7 năm 1985 (Ất Sửu) tại Hà Nội.

Bút danh Giải thích lấy tên Dương Quân (君), ông bảo chỉ có nghĩa anh chàng họ Dương (楊). Ông còn tâm đắc chữ quân (筠) trong tiếng Hán có nghĩa là cây tre, cật tre già. Ông còn nhiều bút danh khác như: Thanh Điểu, Dương Mạnh, Hoàng Dương, Chính Tâm, Tùng Tiết, Tân Sơn...

Gia đình và cuộc đời Ông là út trong gia đình có hai anh em. Dương Hành Kiện người anh ruột về sau này nguyên là phó chánh án Tòa án nhân dân thành phố Vinh- Nghệ An thập niên 1965-1975. Cha ông, một nho sĩ nghèo vừa dạy học, vừa bốc thuốc mất lúc ông còn nhỏ. Bà mẹ trẻ ngoài hai mươi tuổi góa chồng sớm ở vậy nuôi con ăn học. Sinh vào buổi thời tàn của nho học nhưng lại theo đòi Hán học, thông chữ Hán và thạo cả tiếng Pháp, Dương Quân là cháu bên nội của nhà thơ nổi tiếng Long Sơn - Dương Tri Tản và là chắt bên ngoại của tiến sĩ Đông Các đại học sĩ Hồ Sĩ Dương. Sớm tiếp thu cái gien văn chương của tổ tiên mình nên mới mười một tuổi ông đã tập làm thơ và tham gia nhóm Thiếu niên Ái hữu trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Trước Cách mạng tháng Tám, ông tham gia phong trào Việt Minh bí mật ở xã và huyện nhà. Tham gia khởi nghĩa, gia nhập Thanh niên rồi tham gia Cách mạng tháng 8 năm 1945, Xung phong đi bộ đội, sau đó chuyển sang làm việc ở công an huyện Quỳnh Lưu. Ở cương vị công tác nào thì ông cũng vẫn làm thơ. Năm 1953 xảy ra vụ Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, gia đình ông bị quy oan địa chủ và một kẻ xấu vu cho ông từng tham gia Đại Việt, một tổ chức phản động thời Nhật thuộc, tuy gia đình ông những năm 1930 đã hăng hái tham gia cách mạng ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Năm 1955 ông phẫn nộ bỏ ra Hà Nội. Không đủ tiền lộ phí ông đi bộ, dọc đường làm thuê. Ông lên Đại Từ (Thái Nguyên) rồi Tuyên Quang tìm việc làm... Quay về Hà Nội lúc đó vừa mới giải phóng, ông đi bổ củi thuê, đi bán sách, bán báo ở Chợ giời, Phố Huế, Hai Bà Trưng... Sau khi tốt nghiệp khoa báo chí, đầu năm 1959 ông được giới thiệu vào làm phóng viên báo Lao động và bỉnh bút cho tờ báo lâu năm nhất, cũng là lớn nhất này tới lúc giã từ cuộc đời.

Thời gian tại báo Lao động Ông sống ngang tàng, khí khái, thích tự do, không tham gia bất cứ hội đoàn, đảng phái nào. Lương ông thấp lắm, đến lúc nhắm mắt xuôi tay mới ở mức "cán sự 2". Sau nhà thơ trào phúng Huyền Thanh, ông phụ trách chuyên mục thơ trào phúng châm biếm, và đây cũng là mảng đề tài mà ông gắn bó sáng tác trong suốt quãng đời cầm bút gian khó của mình, gian khó là vì thời ông viết chống tham nhũng, tham ô, hối lộ, quan liêu, cửa quyền, móc ngoặc, chống bệnh thành tích, huênh hoang phô trương, làm láo báo cáo hay không phải dễ dàng... Sau khi chấm dứt chiến tranh Việt Nam không thiếu những nhà thơ cùng thời viết ra chỉ để tung hứng chứ không dễ viết hết gan ruột của mình, thì lúc đó những bài thơ châm biếm phê phán nội bộ của ông viết ra kiên quyết không thỏa hiệp. Ông dũng cảm vạch trần chân tướng, bộ mặt, lòng dạ mưu mô xảo quyệt của những ông quan tham thời hiện đại như bài: "Ông đấm rồi ông lại xoa" báo Văn Nghệ tháng 8/1983. Phanh phui phơi bày đầy đủ những xấu xa, thối nát, ung nhọt, bệnh hoạn của một xã hội mà mọi giá trị văn hóa, nhân phẩm đang có nguy cơ rơi xuống vực thẳm. Hơn 500 bài thơ trào phúng châm biếm của ông được trình làng trên nhiều tờ báo ngoài Bắc trong Nam, Trung ương và địa phương như báo Lao động, Văn Nghệ, Nhân dân, Độc Lập, Báo Đại Đoàn Kết, Hà Nội mới, Thương Nghiệp, Sài Gòn Giải Phóng, Công nhân Giải Phóng... đã minh chứng điều đó. Ngoài ra ông còn cộng tác với nhiều nhà xuất bản, tạp chí, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội. Có thể nói ông là cây bút viết thành công khá sớm ở thể loại chống tiêu cực này. Dù khả năng của ông còn viết được mạnh hơn thế, song tiếc rằng lúc đó sự kiểm duyệt báo chí gắt gao, bài vở bị cắt xén thêm bớt một cách tùy tiện, vô tội vạ, chỉ cho phép tác giả viết trong khuôn mẫu hạn định nên thơ ông chưa phát huy được hết sở trường của mình. Điển hình như bài thơ thứ 500 mang tên "Chuột và mèo" có minh họa của Bùi Xuân Phái đăng trên báo Lao động số xuân Giáp Tý (1984) đã từng bị công an văn hóa đến tòa soạn chất vấn. Sau chuyến công tác vào Nam mùa hạ năm 1985, ông bất ngờ qua đời vì bạo bệnh???

Phong cách thơ Thơ ông ngôn ngữ mộc mạc, bình dân, dí dỏm, hài hước, rõ ràng và thông hoạt. Nhuần nhuyễn ca dao tục ngữ. Trong những bài thơ châm biếm thói hư tật xấu của xã hội, xảo quyệt thủ đoạn của những ông quan tham. Ông sử dụng câu từ mạnh bạo, dứt khoát. Ngòi bút châm của ông sắc nhọn. Ông có tài lẩy Kiều và tập Kiều vào trong thơ của mình. Thơ ông có duyên, cái duyên châm biếm từ bên trong mà người đọc bật cười và đồng ý với vấn đề ông đặt ra chứ không đơn thuần ở chữ nghĩa hay vần điệu.

Lá rụng về cội Ông mất tại nhà riêng khu tập thể Khương Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội trong cảnh bần hàn neo túng. Giống như khi ông sống cũng cảnh neo túng bần hàn. Suốt đời ông chưa đi hết bậc lương "cán sự". Gia đình, người thân, bạn bè đưa ông trở về nằm trên quê hương làng Quỳnh, tên gọi tắt làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, một làng quê nghèo, nhỏ bé mà hiếu học. Mảnh đất ấy hàn sĩ nhiều hơn trọc phú, trong mộ địa họ Dương. Bên ông còn có bà Hoàng Thị Huê người vợ thủy chung theo ông suốt đời nhẫn nhục chịu đựng chia sẻ cùng ông những năm tháng dài cay cực nhất vì một thời sống và viết không đơn giản của ông. Vợ ông là con gái nhà cách mạng kháng chiến chống Pháp, liệt sĩ - Hoàng Văn Hợp, người dẫn đầu phong trào khởi nghĩa Xô-Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 nổi tiếng.

Dương Quân — Nhân Hiệu Số