Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Lan Khai

Lan Khai

Lan Khai
Loại
Người

Thông tin nhanh

Ngày sinh
24 · 06 · 1906

Tiểu sử

Lan Khai (24 tháng 6 năm 1906 – 1945), tên thật: Nguyễn Đình Khải, là nhà văn Việt Nam thời tiền chiến. Trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam trước năm 1945, ông được xem là một cây bút sung mãn, một nhà văn "đường rừng" sáng giá. Dù ở thể loại nào ngòi bút của ông vẫn thuyết phục được cảm tình và lý tính của độc giả. Đặc sắc nhất vẫn là ở lĩnh vực sáng tác hiện thực về đời sống miền núi.

Thân thế và sự nghiệp Lan Khai sinh tại xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Cha ông là Nguyễn Đình Chức, nguyên quán ở tỉnh Thừa Thiên-Huế. Khoảng năm 1885, ông Chức cùng hai anh hưởng ứng dụ Cần Vương, tham gia khởi nghĩa do Phan Đình Phùng lãnh đạo ở Hương Khê (Hà Tĩnh). Năm 1895, cuộc khởi nghĩa bị dẹp tan, ba anh em ông Chức phải rời bỏ quê hương, lên thượng nguồn Việt Bắc lập nghiệp. Và ông Chức đã dừng lại ở châu Chiêm Hóa hành nghề dạy học, chữa bệnh. Mẹ Lan Khai là Lê Thị Thục, xuất thân trong một gia tộc lâu đời ở địa phương. Thuở nhỏ, Lan Khai sống gần gũi với các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Hà Nhì... Năm 8 tuổi (1914), ông theo cha mẹ chuyển về sống ở làng Xuân Hòa (nay thuộc phố Xuân Hòa, tỉnh lỵ Tuyên Quang), nơi cư trú của nhiều gia đình thợ thuyền và phu mỏ (vì làng Xuân Hòa tiếp giáp với mỏ than Tuyên Quang và mỏ kẽm Tràng Đà). Năm 12 tuổi (1918), ông bắt đầu tập làm thơ, viết văn và sớm bộc lộ năng khiếu hội họa. Năm 18 tuổi (1924), ông về Hà Nội theo học trường Bưởi. Sau khi học xong bậc Thành chung, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 21 tuổi (1927), ông trở về quê lập gia đình với Hà Thị Minh Kim (1909 - 1999), con một gia đình khá giả ở tỉnh Tuyên Quang, có nhan sắc, học thức và tâm tính nhân hậu... Lấy vợ xong, cuối năm đó, Lan Khai trở lại trường tiếp tục học tập, nhưng học chưa hết hai năm, ông trở lại Tuyên Quang, dạy học, dịch sách và viết văn. Ông cũng đã dành nhiều thì giờ đi du ngoạn đó đây, để vẽ tranh phong cảnh, sưu tầm những sáng tác dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số và tìm hiểu cuộc sống của những người phu mõ. Sau, vì tham gia vào tổ chức bí mật kháng Pháp do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, Lan Khai bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Cha mẹ ông đã phải bán hết gia sản mới cứu ông thoát chết. Năm 1934, khi Lan Khai đã thành danh trên văn đàn, ông quyết định đưa cả gia đình về sống ở Hà Nội (ở nhà thuê, thường đổi chỗ). Để nuôi được 8 người, ông phải viết cật lực. Năm 1938, ông bắt đầu viết cho Tiểu thuyết thứ Bảy và sau đó ông cùng với Lê Văn Trương, trở thành hai cây bút cột trụ của nhà xuất bản Tân Dân. Năm 1939, ông làm Tổng thư ký tạp chí Tao đàn của nhà xuất bản Tân Dân, đồng thời, còn cộng tác với các báo: Loa, Ngọ báo, Đông Tây, Tiểu thuyết thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san... Ngoài ra, ông còn làm diễn viên nghiệp dư trong các vở tuồng và kịch lịch sử tại Nhà hát lớn Hà Nội, làm diễn giả thường xuyên của Hội Trí tri, cộng tác với Hội truyền bá quốc ngữ của Nguyễn Văn Tố... Cuối năm 1943, sau khi Lan Khai ra tù vì tội viết cuốn Lầm than, gia đình ông lâm vào tình cảnh túng quẫn, cộng thêm bệnh hen suyễn hành hạ ông, nên ông đã phải đưa vợ con về lại quê nhà. Tại đây, ông mở hiệu sách Lan đình bán các loại sách báo, tiếp tục viết văn, dạy học và vẽ truyền thần. Trong một ngày gần cuối năm 1945, Lan Khai bị một nhóm người khác phe phái thủ tiêu tại Tuyên Quang.

Tác phẩm Trong 17 năm cầm bút (1928 - 1945), Lan Khai đã để lại gần 50 cuốn sách các loại. Riêng về lĩnh vực văn xuôi, sáng tác của ông có thể chia làm ba loại: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết tâm lý xã hội và tiểu thuyết lịch sử.

Tiểu thuyết đường rừng Tuy ít, nhưng đó là những tác phẩm đặc sắc, in đậm cá tính sáng tạo của ông. Nổi bật có:

Tiếng gọi của rừng thẳm (Tân Dân xuất bản, 1939) Truyện đường rừng (Tân Dân xuất bản, 1940) Dấu ngựa trên sương (Hương Sơn xuất bản, 1940) Chiếc nỏ cánh dâu (Duy Tân xuất bản, 1941) Suối đàn (Cộng Lực xuất bản, 1942)

Tiểu thuyết lịch sử Ai lên Phố Cát (Tân Dân xuất bản, 1937) Chiếc ngai vàng (Tân Dân xuất bản, 1937) Cái hột mận (Tân Dân xuất bản, 1938) Gái thời loạn (Tân Dân xuất bản, 1938) Liếp-Li (Tân Dân xuất bản, 1938) Bóng cờ trắng trong sương mù (Tân Dân xuất bản, 1940) Cưỡi đầu voi dữ (Tân Dân xuất bản, 1940) Cánh buồm thoát tục (Tân Dân xuất bản, 1941) Đỉnh non thần (Tân Dân xuất bản, 1941) Người thù của mặt trời (Thành Cát Tư Hãn) (Hương Sơn xuất bản, 1941) Gửi cái xuân tàn (1941) Theo lớp mây đưa (Tân Dân xuất bản, 1942) Tình ngoài muôn dặm (Tân Dân xuất bản, 1942) Trăng nước Hồ Tây (Hương Sơn xuất bản, 1942) Trong cơn binh lửa (Kiến Thiết xuất bản, 1942) Thành bại với anh hùng (Quốc gia xuất bản, 1942) Rỡn sóng Bạch Đằng (viết cùng Nguyễn Tố. Duy Tân xuất bản, 1942) Sầu lên ngọn ải (Duy Tân xuất bản, 1942) Ái-tình và sự-nghiệp (Đời Mới xuất bản, 1942) Chàng kỵ-sĩ (Đời Mới xuất bản, 1943) Treo bức chiến bào (Hương Sơn xuất bản, 1949)

Tiểu thuyết tâm lý xã hội Gồm có:

Nước hồ Gươm (Nhật Nam xuất bản, 1928) Lẩn sự đời (Lê Quang Thiệp xuất bản, 1934) Nơi ước hẹn (1934) Kiếp con tằm (1935) Cô Dung (Tân Dân xuất bản, 1936) Lầm than (Tân Dân xuất bản, 1938) Người hay bóng (Tân Dân xuất bản, 1939) Trang (Tân Dân xuất bản, 1939) Cơn ác mộng (Tân Dân xuất bản, 1939) Hồng thầu (Tân Dân xuất bản, 1940) Tiếng khóc trong sương (Tân Dân xuất bản, 1940) Nàng (Hương Sơn xuất bản, 1940) Mực mài nước mắt (Đời Mới xuất bản, 1941) Tội và thương (Hương Sơn xuất bản, 1941) Tình và máu (Hương Sơn xuất bản, 1942) Tội nhân hay nạn nhân? (Kiến Thiết xuất bản, 1942) Hối hận (Tân Dân xuất bản, 1943) Mưa xuân (Hoạt động xuất bản, 1944)

Nghiên cứu lý luận và phê bình văn học Có các tác phẩm:

Lan Khai — Nhân Hiệu Số