Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Lê Đại Thanh

Lê Đại Thanh

Loại
Người

Thông tin nhanh

Năm sinh
1907

Tiểu sử

Lê Đại Thanh (1907-1996) là nhà thơ, nhà viết kịch thuộc thế hệ những nghệ sĩ đầu tiên của nghệ thuật sân khấu Việt Nam hiện đại, cùng thời với Thế Lữ và Vi Huyền Đắc. Ông đồng thời là hội viên sáng lập của Hội Nhà văn Việt Nam (1957) cũng như các tờ báo Văn nghệ và báo Cứu quốc. Các con và cháu ngoại của ông sau này đều trở thành những nghệ sĩ tên tuổi như họa sĩ Lê Đại Chúc, Nghệ sĩ ưu tú Lê Chức, Nghệ sĩ ưu tú Lê Mai, Nghệ sĩ Nhân dân Lê Khanh, Nghệ sĩ ưu tú Lê Vân, và Nghệ sĩ ưu tú Lê Vi.

Tiểu sử và sự nghiệp

Những năm tuổi trẻ Lê Đại Thanh sinh năm 1907 tại Hải Phòng trong một gia đình trí thức. Ông học bậc tiểu học tại trường Bonnal, Hải Phòng (nay là Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Hải Phòng). Sau khi học xong tiểu học năm 1922, ông lên học trường Bưởi, Hà Nội. Tốt nghiệp bằng Thành Chung, Lê Đại Thanh theo học ngành sư phạm. Năm 1927, ra trường, ông được bổ nhiệm về dạy học tại Nam Định (1927–1932). Tại đây có hai học trò của ông sau này đã trở thành những nhà văn nổi tiếng là Nam Cao và Nguyên Hồng. Cũng tại Nam Định ông làm quen và kết bạn với một số chiến sĩ cách mạng và những thanh niên có tư tưởng yêu nước như Ngô Gia Tự, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Công Mỹ, Bùi Đình Đổng nên bị chuyển công tác lên Hoà Bình (1933). Năm sau lại bị điều đi xa hơn, tận Nước Hai, Cao Bằng. Học sinh của ông ở Cao Bằng sau này nhiều người trở thành tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam như Bằng Giang, Nam Long. Năm 1935, Lê Đại Thanh được chuyển về công tác gần quê nhà tại trường Hàng Kênh, thuộc huyện Hải An, tỉnh Kiến An (trước đây vốn tách ra từ tỉnh Hải Phòng thành tỉnh Kiến An và thành phố Hải Phòng). Tới năm 1941 ông quay trở lại mái trường cũ Bonnal với cương vị là một thầy giáo và dạy học ở đây cho đến năm 1945.

Hoạt động cách mạng Trong thời gian dạy học ở Nam Định, Lê Đại Thanh quen và kết bạn với một số chiến sĩ cách mạng và những thanh niên có tư tưởng yêu nước nên bị chính quyền bảo hộ chuyển công tác lên Hoà Bình rồi Cao Bằng. Học sinh của ông ở Cao Bằng sau này nhiều người trở thành tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam như Bằng Giang, Nam Long... Năm 1935 ông được chuyển về Kiến An, Hải Phòng dạy học. Cũng trong giai đoạn này ông đã bí mật liên hệ với cách mạng và được cán bộ cách mạng phân công hoạt động trong các phong trào công khai như Hội truyền bá Quốc ngữ và phong trào thể dục thể thao Đuycuaroa. Ông còn bí mật quyên tiền mua súng cho cách mạng. Tháng 5 năm 1945, Lê Đại Thanh bị hiến binh Nhật bắt khi đang diễn thuyết tại hội quán AFA.

Tham gia Chính quyền cách mạng Thành phố Hải phòng Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng cử Lê Đại Thanh làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời phụ trách tuyên truyền song ông chỉ nhận chức Uỷ viên tuyên truyền phù hợp với khả năng của mình. Lãnh đạo Ủy ban cách mạng Hải phòng đều là những trí thức như ông Vũ Quốc Uy, bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên. Dựa vào thế lực quân Tưởng Giới Thạch, phe Việt Nam Quốc dân đảng bắt ông giam ba tuần và định thủ tiêu. Tuy nhiên do phong trào vận đông và đấu tranh quyết liệt của quần chúng dưới sự phát động của Bí thư thành ủy Hải Phòng lúc đó nên ông được trả tự do. Tháng 8 năm 1946, Thành ủy Hải phòng thành lập trường Huấn luyện cán bộ Tô Hiệu, Hiệu trưởng danh dự là ông Hoàng Hữu Nhân. Ông và Hoàng Mạnh Thu được giao phụ trách nhà trường, trực tiếp phụ trách huấn luyện. Trường Huấn luyện Thanh niên Tô Hiệu dành riêng cho thanh niên ưu tú của các Tỉnh miền Duyên Hải Bắc Bộ: Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Quảng Yên, Hòn Gai, Móng Cái. Các học viên được học tập về đường lối cách mạng, được huấn luyện 5 bước công tác cách mạng và huấn luyện quân sự. Khóa huấn luyện đầu tiên cho trên 100 người được vinh dự gặp mặt Bác Hồ vào ngày 21 tháng 10 năm 1946 khi ông từ Pháp trở về. Năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Lê Đại Thanh tham gia hàng ngũ các chiến sĩ trung đoàn 42 bảo vệ Hải Phòng. Sau khi ra vùng tự do ông được cử làm Phó Giám đốc Ban Tuyên truyền liên khu II. Năm 1948, ông tham gia Đại hội thành lập Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và được cử vào Ban Thư ký đại hội. Tiếp đó, Lê Đại Thanh công tác tại Hội Văn hóa cứu quốc rồi tạp chí Gió biển, báo Quân Bạch Đằng thuộc Bộ Tư lệnh liên khu III, báo Cứu quốc thuộc liên khu I. Có thời gian ông nhập ngũ tiểu đoàn 142. Năm 1954, hòa bình lập lại, Lê Đại Thanh được phân công công tác ở báo Văn Nghệ.

Nhân văn Giai phẩm Sự kiện Nhân Văn-Giai Phẩm xảy ra vào năm 1957 đã trở thành cú sốc lớn đối với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Lê Đại Thanh cũng như nhiều nghệ sĩ tên tuổi đương thời trong đó có Văn Cao. Ông bị cấp trên kiểm điểm và buộc thôi công tác tại Đoàn kịch Trung ương. Cũng vì lý do này mà các tác phẩm của Lê Đại Thanh không được phép xuất bản trong suốt một thời gian dài. Sự việc sau này đã được làm rõ qua lời nói của nhà thơ Tố Hữu với Giám đốc Sở Văn hóa Hải phòng nhạc sĩ Trần Hoàn: Trường hợp của ông Lê Đại Thanh nếu như có một kết luận nào đó để hiểu là kỷ luật thì đó là kết luận sai lầm. Tuy nhiên, kết luận kỷ luật sai lầm của cấp trên (mà nhà thơ Tố Hữu đã nói) không chỉ cản trở sự nghiệp văn nghệ của Lê Đại Thanh mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến cả gia đình ông. Con gái Lê Mai của ông khi đó đang là diễn viên Đoàn kịch Trung ương cũng buộc phải thôi việc. Các con ông phải đổi tên, bỏ đi chữ Đại ở giữa. Lê Đại Châu đổi thành Lê Minh Châu. Lê Đại Chức đổi thành Lê Chức. Lê Đại Chúc cũng chỉ là Lê Chúc. Chỉ gần tới khi qua đời (1996) ông mới được minh oan.

Lê Đại Thanh — Nhân Hiệu Số