Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Lê Duy Ứng

Lê Duy Ứng

Loại
Người

Thông tin nhanh

Ngày sinh
08 · 07 · 1947

Tiểu sử

Lê Duy Ứng (sinh ngày 8 tháng 7 năm 1947) là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, họa sĩ, nhà điêu khắc, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam. Ông nổi tiếng vì đã vẽ chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh bằng máu của mình khi đã bị thương hỏng cả hai mắt trong chiến dịch Hồ Chí Minh tại căn cứ Nước Trong.

Cuộc đời Lê Duy Ứng sinh ngày 8 tháng 7 năm 1947 tại thôn Cổ Hiền, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Trường Ninh, tỉnh Quảng Trị). Cha ông là Lê Yến (1923 - 1988), chiến sĩ Vệ quốc đoàn chống Pháp. Năm 1958, phục viên chuyển ngành làm trưởng phòng văn hóa huyện Quảng Ninh. Năm 1962, họa sĩ, phóng viên báo Quảng Bình cho đến khi về hưu (1971). Ông bắt đầu học vẽ từ nhỏ dưới sự dìu dắt của cha và người thầy là nhà giáo ưu tú Bùi Đình Sơn. Năm lớp 4, ông đã có phòng triển lãm tranh riêng mang tên "Xấu nên tránh, tốt nên làm" ở huyện Quảng Ninh. Tháng 9 năm 1971, khi đang là sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, ông tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông làm chiến sĩ trinh sát thuộc đại đội 20, trung đoàn 101, sư đoàn 325. Năm 1972 ông tham gia 81 ngày đêm Mùa hè đỏ lửa bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, ông được kết nạp Đảng tại chiến hào ngày 23/8/1972. Sau đó, ông giữ chức trợ lý Ban Tuyên huấn Trung đoàn 101. Ở bến vượt Nhan Biều - nơi trao trẻ tù bình (1973), ông đã quen và yêu cô Trần Thị Lê (19 tuổi) - nhân viên T72 đón tiếp những người chiến thắng trở về, người mà sau này sẽ là vợ của ông. Sau khi giải phóng thành cổ Quảng Trị, đơn vị ông đánh địch lấn chiếm vào Cửa Việt năm 1973. Tại trận này, ông vẽ bức tranh "Chiến thắng Cửa Việt" và tặng cho Thiếu tướng, Tư lệnh Chiến dịch Quảng Trị Lê Trọng Tấn, sau này là Đại Tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Cửa Việt, ông làm cán bộ tuyên huấn Sư đoàn 325. Ngày 17 tháng 5 năm 1974, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân đoàn 2, tiến vào giải phóng Sài Gòn. Nhiệm vụ của ông là theo đơn vị để ghi lại hình ảnh chiến đấu của bộ đội bằng máy ảnh và bút vẽ, đưa vào bảo tàng truyền thống Quân đoàn 2. Đêm ngày 27, rạng sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, khi còn cách cửa ngõ Sài Gòn 30 km, tại căn cứ Nước Trong (một căn cứ của Ngụy quyền Sài Gòn ở Long Thành, Đồng Nai), ông bị thương hỏng hai mắt và ngất đi vì trúng đạn súng chống tăng M72 của địch. Trong lúc nguy kịch, sau khi tỉnh lại, biết mình không sống nổi, ông đã mò mẫm trong đêm tối dùng ngón tay làm bút chấm máu từ đôi mắt bị thương của mình để vẽ nên bức chân dung chủ tịch Hồ Chí Minh với nền là lá cờ Tổ quốc và cờ Đảng Cộng sản Việt Nam, phía dưới ghi đậm dòng chữ "Ánh sáng niềm tin/Con nguyện dâng Người tuổi thanh xuân". Rồi ký tên, gấp cẩn thận bỏ vào túi áo ngực trái tim mình và lại ngất đi không biết gì nữa. Bức tranh này hiện đang được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Sau đó, ông được đưa ra điều trị tại Nha Trang và Hà Nội, điều trị tại Viện quân y 108 (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108), xếp loại thương tật nặng, mất sức 91% vĩnh viễn (hạng 1/4). Vì là họa sĩ mà bị hỏng mắt, ông trở nên chán nản, thậm chí nhiều lúc không muốn sống, may nhờ Thượng tá, bác sĩ Đào Xuân Trà động viên - Viện phó viện 108 kiêm chủ nhiệm khoa mắt khuyên chuyển qua điêu khắc.Từ đó ông say sưa sáng tác, đặc biệt khi đang tạc tượng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm động viên và đã nói 1 câu mà suốt cuộc đời ông không bao giờ quên: "Beethoven sáng tác những bản nhạc hay nhất khi điếc cả hai tai thì cũng như họa sĩ hỏng mắt mà không nhìn thấy đường nét, ánh sáng, màu sắc. Đồng chí hãy lấy tấm gương đó mà phấn đấu và rèn luyện." Sau hơn 7 năm sống trong bóng đêm, ngày 4 tháng 10 năm 1982, ông được giáo sư, bác sĩ Nguyễn Trọng Nhân cấy ghép giác mạc thành công và ông đã nhìn thấy trở lại, tuy thị lực chỉ được 5/10 và mắt phải bị hỏng vĩnh viễn. Năm 1983, ông tái ngũ công tác tại xưởng Mỹ thuật Quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị QĐNDVN. Ông tích cực vẽ tranh và tạc tượng. Ông là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam (1978). Năm 1990, ông được điều về công tác tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Năm 2005, khi ông đang làm việc ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đôi mắt ông mờ dần có nguy cơ hỏng trở lại. Ông được tài trợ đi chữa mắt ở Nhật Bản. Năm 2006, mắt ông đã sáng trở lại. Nhưng vì vết thương cũ tái phát, nên từ năm 2012 mắt ông chỉ có thể phân biệt được sáng tối, ngày và đêm. Nhưng ông vẫn tiếp tục sáng tác không ngừng nghỉ. Cuộc đời của ông đã được đưa vào SGK Tiếng Việt lớp 4 phổ thông tập 1, bài chính tả mang tựa đề: Người chiến sĩ giàu nghị lực. Ông hiện đang có bảo tàng mỹ thuật tư nhân tại số 102 Phố Đông Thiên, phường Vĩnh Hưng, Hà Nội.

Gia đình Cha ông là Lê Yến (1923 - 1988), chiến sĩ Vệ quốc đoàn chống Pháp. Năm 1958, phục viên chuyển ngành làm trưởng phòng văn hóa huyện Quảng Ninh. Năm 1962, họa sĩ, phóng viên báo Quảng Bình cho đến khi về hưu (1971). Ông nhận Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, chống Mỹ hạng Nhì. Mẹ là Nguyễn Thị Chai (1925 - 1971), chiến sĩ "hai giỏi" (Chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi) những năm chống Mỹ cứu nước. Bà nhận huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất Ông là con đầu, em thứ hai là Lê Hồng Hạnh sinh năm 1949 (giáo viên cấp III); em thứ ba là Lê Bích Đào sinh năm 1955 (cán bộ thuơng nghiệp), em thứ tư là họa sĩ, thượng tá Công an Nhân dân Lê Xuân Huyên sinh năm 1961; em thứ năm là trung tá QĐNDVN Lê Thị Hảo sinh năm 1969. Vợ ông là bà Trần Thị Lê sinh 22 tháng 12 năm 1953, một người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, công tác tại ngành thương nghiệp. Tình nguyện vào Nam phục vụ chiến đấu (1971-1974). Bà được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì. Ngày 19 tháng 9 năm 1976, ông xây dựng gia đình với bà Họ có một con trai tên là Lê Đông Hà sinh năm 1977, Trung tá, phóng viên báo Quân đội nhân dân, hiện nay đã chuyển sang công tác tại Báo Nhân dân; một con gái tên là Lê Thu Hà sinh năm 1982, hiện tại đang công tác tại Báo Nhân dân.

Lê Duy Ứng — Nhân Hiệu Số