Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn

Lê Quý Đôn
Loại
Người · writer

Thông tin nhanh

Danh xưng
Nhà bác học lớn của Việt Nam thời Lê
Năm sinh
1725
Chuyên môn
  • Bác học
  • Văn học

Tiểu sử

Lê Quý Đôn (chữ Hán: 黎貴惇, 2 tháng 8 năm 1726 – 11 tháng 6 năm 1784), tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu (允厚), hiệu Quế Đường (桂堂), là vị quan thời Lê trung hưng, cũng là nhà thơ và được mệnh danh là "nhà bác học lớn của Việt Nam trong thời phong kiến". Tác phẩm của Lê Quý Đôn thống kê có tới 40 bộ, bao gồm hàng trăm quyển, nhưng một số bị mối mọt ăn mất. Ngày 31 tháng 10 năm 2025, Lê Quý Đôn được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới.

Thân thế và sự nghiệp Lê Quý Đôn (2/8/1726 - 11/6/1784), lúc nhỏ tên Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường; sinh tại phường Bích Câu, Thăng Long, nay là Hà Nội. Quê của bố ông là làng Diên Hà, trấn Sơn Nam, sau là thôn Đồng Phú, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, (nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Thái Bình) Ông là con trai cả của ông Lê Phú Thứ (sau đổi là Lê Trọng Thứ), đỗ Tiến sĩ năm Bảo Thái thứ 2 (Giáp Thìn, 1721) và làm quan trải đến chức Hình bộ Thượng thư, tước Nghĩa Phái hầu. Ông Lê Trọng Thứ sinh năm 1694 và có hiệu là Trúc Am. Tổ tiên vốn là họ Lý ở huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc. Vì tránh nạn nên gia đình ông dời về ở xã Vị Dương (nay là huyện Thái Thụy, Thái Bình). Về sau gia đình ông lại đến ngụ cư ở xã Diên Hà, huyện Hưng Hà cùng tỉnh. Mẹ Lê Quý Đôn tên Trương Thị Ích, là con gái thứ ba của Trương Minh Lượng, đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1700), trải nhiều chức quan, tước Hoằng Phái hầu.

Ba lần đỗ đầu Thuở nhỏ, Lê Quý Đôn là người ham học, thông minh, có trí nhớ tốt, được người đương thời coi là "thần đồng". Năm lên 5 tuổi, ông đã đọc được nhiều bài trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, ông đã học "khắp kinh, truyện, các sử, các sách của bách gia chư tử". Năm 1743 (Quý Hợi, đời vua Lê Hiển Tông), ông dự thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên) lúc 18 tuổi. Sau khi đỗ Giải nguyên năm 1743, vì không muốn trùng tên với Nguyễn Danh Phương (1690 – 1751), một thủ lĩnh nông dân đang nổi lên chống triều đình, nên ông đã đổi tên là Lê Quý Đôn. Sau đó, ông cưới bà Lê Thị Trang ở phường Bích Câu làm vợ. Bà là con gái thứ 7 của Lê Hữu Kiều, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718). Tuy đỗ đầu khoa thi Hương, nhưng thi Hội mấy lần ông đều không đỗ. Ông ở nhà dạy học và viết sách trong khoảng 10 năm (1743-1752). Sách Đại Việt thông sử (còn gọi là "Lê triều thông sử") được ông làm trong giai đoạn này (Kỷ Tỵ, 1749). Đến năm 1752, ông lại dự thi Hội, và lần này thì đỗ Hội nguyên. Vào thi Đình, ông đỗ luôn Bảng nhãn. Vì kỳ thi này không lấy đỗ Trạng nguyên nên kể như cả ba lần thi ông đều đỗ đầu.

Làm quan Sau khi đỗ đại khoa, năm Quý Dậu (1753), Lê Quý Đôn được bổ làm Thị thư ở Viện Hàn lâm, rồi sung làm Toản tu quốc sử vào mùa xuân năm Giáp Tuất (1754). Năm Bính Tý (1756), ông được cử đi thanh tra ở trấn Sơn Nam, phát giác "6, 7 viên quan ăn hối lộ". Tháng 5 năm đó, ông được biệt phái sang phủ Chúa coi việc quân sự (chức Tri Binh phiên). Ba tháng sau, ông được cử đi hiệp đồng các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa... rồi đem quân đi đánh quân của Hoàng Công Chất. Năm Đinh Sửu (1757), ông được thăng làm Hàn lâm viện Thị giảng. Trong năm này ông viết Quần thư khảo biện.

Đi sứ nhà Thanh Năm Kỷ Mão (1759), vua Lê Ý Tông mất, triều đình cử ông làm Phó sứ, tước Dĩnh Thành bá, để cùng với Trần Huy Mật, Trịnh Xuân Chú dẫn đầu phái đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc) báo tang và nộp cống (1760).“ Tháng 11 năm Kỷ Mão, Cảnh Hưng thứ 20 (1759) sai các ông Chánh sứ Trần Huy Mật, Phó sứ Lê Quý Đôn, Trịnh Xuân Chú sang tuế cống nhà Thanh, thêm vào việc báo tang vua [Lê] Ý Tông. ” Trên đường sang Yên Kinh (nay là Bắc Kinh), Lê Quý Đôn thấy các quan lại nhà Thanh có thói quen gọi đoàn sứ của Đại Việt là "di quan, di mục" (quan lại mọi rợ), ông lên tiếng phản đối, từ đấy họ mới gọi là "An Nam cống sứ". Việc đáng kể nữa trong chuyến đi sứ này đó là ông đã được các quan lớn triều Thanh như Binh bộ Thượng thư Lương Thi Chinh, Công bộ Thượng thư Quy Hữu Quang và nhiều nho thần khác tìm đến thăm. Đặc biệt, khi đến làm lễ ở điện Hồng Lô, Lê Quý Đôn gặp đoàn sứ thần Triều Tiên do Hồng Khải Hi (洪启禧 – 홍계희) đứng đầu (còn có Triệu Vinh Tiến 趙榮進 và Lý Huy Trung 李徽中). Sau đó, ông đã làm thơ với họ và cho họ xem ba tác phẩm của mình là Thánh mô hiền phạm lục, Quần thư khảo biện và Tiêu Tương bách vịnh. Tài văn chương và ứng đáp của ông làm cho họ "phải tôn trọng", "phải khen ngợi". Một trong số các bài thơ Lê Quý Đôn giao lưu với các sứ thần Triều Tiên:

“ 送朝鮮國使其一 異邦合志亦同方, 學術本從先素王。 完福共欣歌五善, 逸才偏愧乏三長。 側釐白錘交投贈, 端委洪疇覓表章。 信筆書黃終歉歉, 粲花清論過揄揚。 Tống Triều Tiên quốc sứ kỳ nhất Dị bang hợp chí diệc đồng phương, Học thuật bản tòng Tiên Tố Vương. Hoàn phúc cộng hân ca ngũ thiện, Dật tài thiên quý phạp tam trường. Trắc ly, bạch trụy giao đầu tặng, Đoan ủy, hồng trù mịch biểu chương. Tín bút thư hoàng chung khiểm khiểm, Xán hoa thanh luận quá du dương. Tiễn sứ thần Triều Tiên kỳ 1

Khác bang nhưng hợp chí, cũng cùng một hướng,Học thuật vốn cùng theo Tiên Tố Vương.Cùng vui với cái phúc được trọn vẹn, ca lên bài ca ngũ thiện,Riêng thẹn cho mình đem khoe tài năng mà lại không đủ tam trường.Giấy trắc ly và giấy bạch trụy trao tặng lẫn nhau,Phép đoan ủy và phép hồng trù tìm thấy ở biểu chương.Thả sức viết văn sửa chữ, thật uyển chuyển,Miệng tươi như hoa luận bàn, rõ ràng lại quá đề cao. ”