Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Lương Định Của

Lương Định Của

Loại
Người · expert

Thông tin nhanh

Danh xưng
Nhà nông học, cha đẻ nhiều giống lúa Việt Nam
Ngày sinh
16 · 08 · 1920
Chuyên môn
  • Nông học

Tiểu sử

Lương Định Của (16 tháng 8 năm 1920 – 28 tháng 12 năm 1975) là một nhà nông học người Việt Nam, hoạt động trong các lĩnh vực di truyền học, chọn giống và kỹ thuật canh tác cây trồng. Ông học tập và nghiên cứu tại Nhật Bản; trở về Việt Nam năm 1952; công bố một số bài báo khoa học vào đầu thập niên 1950 về hiện tượng đa bội thể và sinh lý trổ bông – nở hoa của lúa trong điều kiện thí nghiệm. Các tư liệu tiểu sử gắn ông với chương trình chọn tạo và khảo nghiệm giống lúa ngắn ngày, đồng thời với một số mô hình thâm canh và tổ chức ruộng đồng như "bờ vùng, bờ thửa" và cấy theo hàng nhằm ổn định mật độ, chăm sóc và quản lý nước trên ruộng lúa. Trong hệ thống đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp ở miền Bắc, ông giữ một số vị trí quản lý, gồm Phó Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm và Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1968 đến khi qua đời, ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm. Ông đồng thời tham gia hoạt động xã hội và là đại biểu Quốc hội Việt Nam nhiều khóa trong giai đoạn 1960–1970. Ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (1967) và có các công trình được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ (1996). Tên ông được đặt cho Giải thưởng Lương Định Của và một số công trình, đường phố tại Việt Nam.

Tiểu sử và đời tư Lương Định Của sinh tại vùng Đại Ngãi (thuộc tỉnh Sóc Trăng thời Pháp thuộc, còn nay thuộc xã Đại Ngãi, thành phố Cần Thơ, Việt Nam). Ông học bậc trung học tại Sài Gòn và đỗ tú tài toàn phần năm 1937. Quá trình học tập được mô tả gồm y khoa tại Hồng Kông và kinh tế tại Thượng Hải; định hướng nghiên cứu nông học gắn với giai đoạn đào tạo ở Nhật Bản. Tại Nhật Bản, sau khoảng một năm học tập, ông được nhà trường đặc cách cho học thẳng lên năm thứ ba tại Đại học Kyushu. Sau khi tốt nghiệp Kyushu, ông tiếp tục làm nghiên cứu tại Đại học Kyoto. Các công bố khoa học của ông tập trung vào đa bội thể ở lúa và quan sát trổ bông – nở hoa của lúa lưỡng bội và tứ bội tự phát trong điều kiện thí nghiệm. Ông bảo vệ luận án tiến sĩ nông học tại Đại học Kyoto năm 1951. Giai đoạn làm việc tại Nhật Bản cũng gắn với đời sống gia đình của ông: ông kết hôn với Nobuko Nakamura (1922–2022) năm 1945; hai người cùng làm việc tại cơ sở thí nghiệm gắn với Đại học Kyushu. Sau khi hoàn tất đào tạo, ông trở về Việt Nam năm 1952; từ năm 1954, gia đình tập kết ra miền Bắc và ông tham gia các cơ sở đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp. Trong giai đoạn 1956–1960, ông là Phó Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm. Từ năm 1963, ông giữ chức Phó Viện trưởng Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Từ tháng 7 năm 1968 đến tháng 12 năm 1975, ông là Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, gắn với hoạt động chọn tạo giống, khảo nghiệm và chuyển giao kỹ thuật sản xuất lương thực. Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam nhiều khóa trong giai đoạn thập niên 1960–1970. Năm 1975, ông tham gia đoàn chuyên gia nông nghiệp Việt Nam sang Cuba theo lời mời của lãnh đạo nước này, trao đổi kinh nghiệm thâm canh và sản xuất lương thực. Về người vợ Nobuko Nakamura, bà theo chồng về Việt Nam từ năm 1952 và làm phát thanh viên tiếng Nhật tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Hai người có 5 người con (sinh ở cả Nhật Bản và Việt Nam). Sau khi ông qua đời năm 1975, bà tiếp tục sinh sống tại Việt Nam cùng con cháu và xuất hiện trong một số bài viết, phỏng vấn về gia đình và ký ức về ông. Bà là tác giả hồi ký Cơn gió thổi từ Hà Nội. Bà mất tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 5 năm 2022.