Thông tin nhanh
- Ngày sinh
- 01 · 08 · 1905
Tiểu sử
}} Nguyễn Khánh Toàn (1905-1993) là nhà cách mạng, nhà giáo, nhà khoa học Việt Nam. Ông là Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng khóa III (1960 - 1976), đại biểu Quốc hội các khóa II và III (1960 - 1971). Ông được truy tặng Huân chương Sao Vàng và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ. Ông có học hàm Giáo sư; là viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức.
Tiểu sử Nguyễn Khánh Toàn (bút danh: Hoàng Chính Quang, Mỉa Mai) sinh ngày 1 tháng 8 năm 1905 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong một gia đình công chức nghèo. Quê gốc làng Thanh Lương, phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế (nay là phường Kim Trà, thành phố Huế). Năm 1926, Nguyễn Khánh Toàn tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Năm 1929, ông học tại Trường Đảng Liên Xô. Sau đó được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ là Phó Ban Đông Dương. Năm 1939, ông được cử sang hoạt động tại Trung Quốc rồi về Việt Nam vào tháng 10 năm 1945. Năm 1946 đến 1959, ông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Năm 1959 đến 1960, ông được cử làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Sau khi Ủy ban Khoa học Xã hội tách ra từ Ủy ban Khoa học Nhà nước (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) vào năm 1965, ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Ủy ban này này cho đến ngày nghỉ hưu (năm 1982). Chủ nhiệm Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài, Chủ nhiệm Ủy ban Thiếu niên, Nhi đồng Trung ương. Đại biểu Quốc hội khóa II (7/1960). Ông là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (1960 - 1976), đại biểu Quốc hội các khóa II và III (1960 - 1971). Năm 1962 đến 1964, ông tiếp tục được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Ông cũng từng làm Phó Ban Khoa giáo Trung ương (1964-1965). Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Sử học (1969 - 1980); Chủ tịch danh dự Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1965-1982), Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Xô. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước chỉ đạo việc biên soạn và xét duyệt Từ điển tiếng Việt phổ thông. Ông mất ngày 9 tháng 12 năm 1993, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.
Sự nghiệp
Hoạt động cách mạng Năm 1924, khi còn là sinh viên văn khoa Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương ở Hà Nội, Nguyễn Khánh Toàn đã tham gia phong trào của học sinh, sinh viên đòi trả tự do cho Phan Bội Châu. Năm 1926, ông vào Sài Gòn làm báo L’Annam do Luật sư Phan Văn Trường chủ trương. Sau đó, cùng với một số trí thức yêu nước ở Sài Gòn, ông sáng lập tờ báo tiếng Pháp Le Nha que. Trên báo này, ông cho đăng Bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác và Ănggen và Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Versailles tháng 6-1919. Vì thế ông đã bị thực dân Pháp bắt giam. Năm 1927, ông bị xử án treo. Năm 1928, Nguyễn Khánh Toàn đệ đơn lên Thống đốc Trung Kỳ xin đi Pháp. Năm 1929, ông sang học tại Trường Đảng Liên Xô. Năm 1930, Quốc tế Cộng sản giới thiệu ông làm nghiên cứu sinh sử học. Sau đó, với bí danh Minin, ông trở thành giảng viên, phiên dịch viên của trường và cán bộ nghiên cứu trong Viện dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, đảm nhận chức vụ Phó ban Đông Dương. Năm 1939, ông được cử về Trung Quốc hoạt động với nhóm Cộng sản Việt Nam ở Diên An. Tại đây, với bí danh Hoàng Chính Quang, ông tham gia giảng dạy tại Khoa Lịch sử cách mạng thế giới và Khoa tiếng Nga. Tháng 10 năm 1945, ông về Việt Nam tham gia vào nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho đến ngày nghỉ hưu.
Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn là linh hồn của hai cuộc cải cách giáo dục của Việt Nam: lần thứ nhất vào năm 1950 và lần thứ hai vào năm 1960. Ông là kiến trúc sư của những thắng lợi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp giáo dục cách mạng ở Việt Nam. Ông đề xuất hàng loạt vấn đề lý luận có ý nghĩa quan trọng hàng đầu với công tác giáo dục cho đến nay vẫn còn giá trị.
Khoa học Năm 1933, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Trường Đại học Phương Đông, Liên Xô. Ông nói và viết thành thạo 4 ngoại ngữ: Pháp, Nga, Hoa, Anh. Đây chính là tấm gương sáng cho mọi cán bộ khoa học trong việc học tập, sử dụng ngoại ngữ. Ông tinh thông cả văn hóa phương Đông lẫn văn hóa phương Tây, vừa bao quát, vừa chuyên sâu trong các lĩnh vực sử học, văn học, triết học, xã hội học, giáo dục học... Ông là người có công đầu trong việc thành lập một số bộ môn khoa học xã hội. Ông là cầu nối giữa nền khoa học Việt Nam với các nước. Ông đã tập hợp được nhiều nhà khoa học hàng đầu của cả nước về nghiên cứu và làm việc, cùng nhau xây dựng nên một nền khoa học xã hội Việt Nam. Năm 1969, Nguyễn Khánh Toàn là một trong những người đầu tiên đề xuất nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Về nghiên cứu khoa học, Nguyễn Khánh Toàn là nhà khoa học lớn với nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc. Tính từ năm 1926 cho đến khi qua đời, ông đã có trên 500 bài viết bằng nhiều thứ tiếng được đăng tải trên các báo trong và ngoài nước. Hai công trình tiêu biểu nhất của ông: Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long và Vấn đề dân tộc trong cách mạng vô sản, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ đợt I vào năm 1996. Cho đến nay ông là người Việt Nam duy nhất có một tuyển tập tác phẩm được dịch, xuất bản ở Liên Xô trước đây. Đó là tập Tháng Mười vĩ đại và Việt Nam do Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô xuất bản năm 1979. Lời giới thiệu của nhà xuất bản đã khẳng định sự đánh giá rất cao của giới học giả Xô viết về ngòi bút lý luận của ông từ những năm 30 thế kỷ XX. Ông từng là Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản Đại Việt sử ký toàn thư. Ông được phong hàm Giáo sư và được bầu làm viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô và Viện Hàn lâm Khoa học CHDC Đức.