Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh
Loại
Người · Nhân vật lịch sử

Thông tin nhanh

Danh xưng
Nhà cách mạng, nhà cải cách
Ngày sinh
09 · 09 · 1872
Chuyên môn
  • Cách mạng
  • Chính trị

Tiểu sử

Phan Châu Trinh hay Phan Chu Trinh (chữ Hán: 潘周楨, 9 tháng 9 năm 1872 – 24 tháng 3 năm 1926), hiệu là Tây Hồ (西湖), biệt hiệu Hy Mã (希瑪), tự là Tử Cán (子幹). Ông là nhà thơ, nhà văn, và là nhà hoạt động chính trị thời cận đại trong lịch sử Việt Nam.

Thân thế

Gia đình Gia thế Phan Châu Trinh là một nhà vọng tộc trong huyện. Thân phụ là Phan Văn Bình là một võ quan giữ chức Quản cơ sơn phòng (trông coi công việc ở biên giới vùng núi), hưởng ứng phong trào Cần Vương do Trần Văn Dư và Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo, giữ chức chuyển vận sứ, phụ trách việc quân lương. Mẹ là Lê Thị Trung, con nhà danh tộc làng Phú Lâm thuộc xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Sơn Cẩm Hà, thành phố Đà Nẵng), có đức hiền lành, hiểu biết khá nhiều về văn học Trung Quốc. Ông Phan Văn Bình xuất thân từ một gia đình giàu có và hào hiệp, quê ở làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, sau đổi thành huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng). “Ông thân sinh Phan Châu Trinh tên là Bình, học trò trường ba, quyền bá hộ, làm Quản cơ sơn phòng, tán tài kết khách, thanh gươm yên ngựa, có chí muốn lập công danh. Mẹ họ Lê, con nhà danh tộc làng Phú Lâm, có đức hiền lành...” Vợ chồng ông Phan Văn Bình có 4 người con, 3 người con trai lớn và 1 người con gái út, trong đó Phan Châu Trinh là con thứ ba. Năm 1864, bà Lê Thị Trung mất, ông Bình đi bước nữa và có thêm 2 người con gái. Trong quan hệ họ hàng gia tộc, các anh em nội ngoại của ông Phan Văn Bình đều là những người có tiếng trong vùng về lòng yêu nước, thương dân và đã từng tham gia tích cực các phong trào Nghĩa hội, Duy tân, Đông du... như Lê Cơ, Lê Lượng, Lê Vĩnh Huy, Lê Triêm... Theo tư liệu từ cuốn “Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước” của Nguyễn Q.Thắng, ông Phan Văn Bình xuất thân từ học trò thi vào trường ba (tú tài), sau đó nhập ngũ vào năm 1884 và giữ chức Quản cơ sơn phòng Dương Yên, dưới quyền chỉ huy của sơn phòng Chánh sứ Trần Văn Dư.

Thời thơ ấu Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng). Mẹ của Phan Châu Trinh mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần vương, nên ông phải theo cha, được cha dạy chữ và dạy võ. Năm 1886, quân Pháp và quân Nam Triều do Nguyễn Thân chỉ huy tấn công, đánh phá ác liệt các căn cứ hậu bị của nghĩa quân theo phong trào Nghĩa hội ở Trung Lộc, An Lâm, Dương Yên, Đại Đồng, Suối Đá... Sau thời gian cầm cự, lực lượng nghĩa binh dần dần tan rã do chênh lệch về lực lượng và vũ khí thô sơ không tương xứng. Thêm vào đó, lúc này các lãnh tụ ở địa phương có người nghi kỵ lẫn nhau nên không những không còn tin dùng như trước nữa mà còn tìm cách hãm hại nhau. Riêng đối với Phan Văn Bình, lãnh tụ Nghĩa hội nghi ông là người “có nhị tâm” nên đã cho người sát hại năm 1887 sau các trận đánh ở Nà Lầu, Suối Đá. Theo thân nhân gia đình họ Phan ở Tây Lộc và theo cuốn Phong trào Duy Tân của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân thì ông Phan Văn Bình bị cận vệ của Hường Hiệu chặn bắt tại khu vực cầu Mỹ Lý (nay thuộc xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) và bị sát hại sau đó vào ngày ngày 15 tháng 6 năm 1886... Sau khi cha mất, Phan Châu Trinh trở về quê sống với anh là Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông học giỏi, năm 27 tuổi, được tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang và Phạm Liệu. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng cho rằng, chính cái chết oan trái của thân phụ Phan Văn Bình mà sau này chí sĩ Phan Châu Trinh đã có cái nhìn sâu sắc, tường tận về nền quân chủ và dân chủ trong sinh hoạt chính trị - xã hội ở Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX.

Sự nghiệp Khoa Canh Tý (1900), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời gian này, người anh cả mất nên ông về để tang, ở nhà dạy học đến năm Quý Mão (1903) thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.

Vào Nam, ra Bắc, sang Nhật Năm 1905 ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904 làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn đồng chí hướng. Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh, ba ông lẩn vào các khóa sinh. Vào trường thi, Phan Châu Trinh làm một bài thơ, còn hai bạn thì làm chung một bài phú. Cả ba đều ký tên giả là Đào Mộng Giác. Nội dung bài không theo đầu đề, mà chỉ kêu gọi sĩ tử đang đắm đuối trong khoa trường và danh lợi, hãy tỉnh dậy lo giải phóng giống nòi khỏi cảnh lao khổ. Các tỉnh quan Nam triều hoảng sợ, đem bài trình cho viên Công sứ Pháp, đồng thời ra lệnh truy tìm tác giả, nhưng ba ông đã rời khỏi Bình Định, tiếp tục đi vào các tỉnh phía Nam Trung Kỳ. Trên đường đi, ba ông lần lượt kết giao với Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi và hai con trai của danh sĩ Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh. Sau cuộc Nam du, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà Nội để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ Đề Thám quan sát tình hình, nhưng ông thấy phong trào này khó có thể tồn tại lâu dài. Năm 1906 ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân của xứ sở này. Ông viết:

Phan Châu Trinh — Nhân Hiệu Số