Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Phan Thanh

Phan Thanh

Phan Thanh
Loại
Người

Thông tin nhanh

Ngày sinh
01 · 06 · 1908

Tiểu sử

Phan Thanh (1 tháng 6 năm 1908 – 1 tháng 5 năm 1939) là một chính khách kiêm nhà báo người Việt Nam. Ông là đảng viên Đảng Xã hội Pháp (S.F.I.O), dân biểu của Viện Dân biểu Trung Kỳ, thành viên Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương và thành viên của Hội đồng thành phố Hà Nội.

Gia thế

Phan Thanh sinh ngày 1 tháng 6 năm 1908 tại làng Bảo An, tổng Đa Hòa, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Gò Nổi, thành phố Đà Nẵng). Đây là một làng nhỏ bên bờ sông Thu Bồn, cách Đà Nẵng gần 40 km về phía nam, là một trong 24 làng cũ thuộc vùng Gò Nổi. Phan Thanh là thành viên trong gia tộc họ Phan, phái nhì, đời thứ 13, cùng đời với Phan Thành Tài. Ông nội ông là Cử nhân Phan Khắc Nhu, cha là nhà Nho Phan Định (1868–1929) (thường gọi Biện Chín), bác ruột là Phó bảng Phan Trân (cha của nhà văn Phan Khôi). Mẹ ông là Lê Thị Tiếu, con gái của Cử nhân Lê Đăng Cung; cậu là học giả Sở Cuồng Lê Dư. Ông bà Phan Định có 12 người con, 7 trai, 5 gái. Phan Thanh là người con trai thứ ba trong năm anh em trai (ngoài hai người anh trai đã mất khi còn bé). Cả năm anh em đều từng tham gia hoạt động cách mạng, hai anh Phan Hạnh và Phan Nhụy từng tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân. Em trai ông là Phan Bôi, tức Hoàng Hữu Nam (1911–1947) cũng là một nhà hoạt động cách mạng, đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1930, sau này trở thành Đại biểu Quốc hội khóa I và Thứ trưởng Bộ Nội vụ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tuổi thơ và giáo dục Năm 7 tuổi, Phan Thanh được gia đình cho vào học lớp Đồng ấu tại quê. Sau khi tốt nghiệp sơ học yếu lược, ông tiếp tục được cho lên thị xã Hội An để học tiếp. Tốt nghiệp loại xuất sắc và nhận bằng Tiểu học Pháp – Việt, ông thi đỗ vào trường Quốc học Huế và tốt nghiệp Quốc học vào năm 1926. Thời gian này, Phan Thanh quan tâm và cộng tác với những tờ báo như "La Cloche Fêlée" của Nguyễn An Ninh và tờ "L'Annam" của Phan Văn Trường xuất bản ở Sài Gòn. Sau khi nhận bằng Cao đẳng Tiểu học Pháp – Việt và chứng chỉ về sư phạm, ông không tiếp tục theo học lấy bằng Tú tài do hoàn cảnh gia đình không cho phép. Ông tự học tiếng Pháp và có khả năng nói, viết tiếng Pháp rất giỏi. Năm 1927, Phan Thanh được bổ nhiệm làm trợ lý giáo học tại một trường tiểu học ở châu Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Dù vậy, ông vẫn tiếp tục có quan hệ thư từ với báo chí Sài Gòn và Phan Bôi. Vài tháng sau, sau khi tại trường nổ ra một cuộc bãi khóa của học sinh, Phan Thanh bị nghi ngờ có liên quan và bị cách chức theo lệnh của Khâm sứ Trung Kỳ. Thất nghiệp, ông trở về quê nhà. Về Bảo An, năm 1928, Phan Thanh kết hôn với Lê Thị Xuyến, một cô giáo, trước là nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế), đã từng có hẹn ước trước đó ông. Sau khi ông bị cách chức, gia đình Lê Thị Xuyến muốn đổi ý, tuy nhiên lại được sự thuyết phục của Phan Khôi, anh họ Phan Thanh, nên cuối cùng đã đồng thuận. Sau khi kết hôn, bà Xuyến trở về dạy ở Đồng Khánh, chuẩn bị sinh đứa con đầu lòng, riêng Phan Thanh quyết định ra Hà Nội lập nghiệp. Ông ra Hà Nội vào cùng năm, lúc đó mới đầy 20 tuổi. Năm 1929, cha của Phan Thanh là Phan Định qua đời, ông từ Hà Nội trở về chịu tang.

Dạy học tại Hà Nội Ra Hà Nội, Phan Thanh chọn nghề giáo viên trường tư, dạy tiếng Pháp và văn học Pháp. Ông được vợ chồng người em họ là Lê Hằng Phương – Vũ Ngọc Phan giúp đỡ cho ở trong nhà riêng và được giới thiệu dạy lớp Pháp văn buổi tối cho một trường tư. Ban ngày, ông dạy học ở Trường Tiểu học Thăng Long ở phố Takou (phố Hàng Cót) do Phạm Hữu Ninh làm hiệu trưởng. Cuối năm 1930, ông được giới thiệu gặp gỡ Bailet, hiệu trưởng Trường Gia Long ở phố Phủ Doãn, và được mời về dạy ở trường. Dạy được 2 năm, Thanh tra Nhà nước phát hiện Phan Thanh đã từng bị thải hồi vì hoạt động chính trị, nên đã thu lại tất cả giấy phép dạy học của ông. Được sự giúp đỡ của Bailet, ông tránh khỏi việc bị thất nghiệp, nhưng chỉ được dạy Pháp văn tại trường Gia Long. Năm 1932, ông đoàn tụ với vợ và người con trai Phan Vịnh (người con cả Phan Tìm đã qua đời). Vợ chồng ông chuyển ra thuê nhà ở phố Hàng Điều. Về sau gia đình ông về ở cùng nhà với gia đình nhà giáo Đặng Thai Mai ở phố Phạm Phú Thứ, rồi chuyển đến 165 Henri d'Orleans (phố Phùng Hưng hiện nay) là nơi ông ở cho đến khi qua đời. Năm 1934, sau khi được Văn phòng thống sứ Bắc Kỳ cho phép trở lại dạy trường tư, Phan Thanh chuyển về dạy lại tại Trường Thăng Long của Phạm Hữu Ninh, cùng một số giáo sư của Gia Long khác như Tôn Thất Bình, Nguyễn Dương, Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai. Sau khi về trường, ông cùng các đồng nghiệp cùng nhau thành lập Hội mở mang nền giáo dục tư thục ("Association pour le développement de l'enseignement libre", ADEL) gồm 8 thành viên. Hội đã mời Nguyễn Bá Húc làm hiệu trưởng, đồng thời quyết định nâng cấp trường Tiểu học Thăng Long lên trường trung học. Tháng 9 năm 1935, Trường Trung học Tư thục Thăng Long khai giảng khóa học đầu tiên tại Ngõ Trạm, từ đó trong vòng 10 năm đã trở thành một trong những trung tâm chính của phong trào vận động trí thức, thanh niên và học sinh Hà Nội.