
Thông tin nhanh
- Ngày sinh
- 17 · 10 · 1917
Tiểu sử
Thích Trí Tịnh (1917 – 2014), thế danh Nguyễn Văn Bình, húy Nhựt Bình, tự Trí Tịnh, hiệu Thiện Chánh, bút hiệu Hân Tịnh tỳ kheo; là một nhà sư thuộc dòng Lâm Tế gia phổ đời thứ 41 tại Việt Nam, từng là Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó Chủ tịch UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Hòa thượng là người có công rất lớn trong việc điều hành và phát triển giáo hội Phật giáo Việt Nam phát triển, là bậc tùng lâm của giáo hội. Ông đồng thời cũng là một cao tăng Việt Nam đã có công phiên dịch Kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa từ bản chữ Hán (do Cưu Ma La Thập dịch từ tiếng Phạn) ra tiếng Việt, cùng nhiều bộ kinh khác.
Tiểu sử
Thân thế Hòa thượng Thích Trí Tịnh sinh ngày 2 tháng 9 năm Đinh Tỵ (17 tháng 10 năm 1917) tại làng Mỹ An Hưng (tục gọi là Cái Tàu Thượng) thuộc quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ An Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình nông dân, và tin theo đạo Phật. Cha là ông Nguyễn Văn Cân và mẹ là bà Nguyễn Thị Truyện. Nhà sư là người con út trong gia đình có 6 anh chị em gồm 3 trai và 3 gái. Nguyễn Văn Bình (về sau là HT Thích Trí Tịnh) từ nhỏ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ (lên 3 tuổi thì mất cha, đến 7 tuổi thì mất mẹ), nên sống với người anh thứ ba (ông Nguyễn Văn Đặng nay đã qua đời, người anh thứ tư mất sớm). Năm 10 tuổi, Nguyễn Văn Bình mới vào lớp năm (tương đương lớp 1 ngày nay), đến năm 15 tuổi thì học xong lớp đệ thất (tương đương lớp 6 ngày nay), rồi sang học chữ Hán với người chú và học nghề thuốc Bắc với người anh họ,...
Xuất gia học đạo Thấy cảnh lục đục của gia đình anh chị nên Nguyễn Văn Bình có ý xuất ly thế tục, và người thanh thiếu niên ấy bắt đầu tìm hiểu các tôn giáo như đạo Thiên Chúa, đạo Cao Đài, Thông Thiên Học,... và đặc biệt quan tâm đến đạo Phật. Năm 18 tuổi, Nguyễn Văn Bình bắt đầu ăn chay trường và tu theo đạo Phật. Năm 1937 (21 tuổi ta), ông cùng người bạn lên Sài Gòn lập nghiệp, ở chung nhà trọ. Trước đó, tuy ông đã có ý định xuất thế nhưng vì còn người chị thứ sáu chưa lập gia đình nên không nỡ bỏ đi. Nay người chị ấy đã yên bề gia thất, nên ông yên tâm thực hiện ước nguyện của mình. Sau đó, ông đi lên núi Cấm (Tịnh Biên, An Giang), đến chùa Lá (sau trùng tu và đổi tên là Vạn Linh), xin Hòa thượng Trụ trì Thích Thiện Quang (thượng Thiện hạ Quang, thế danh Nguyễn Hồng Xứng; 1895-1953) cho xuất gia, và được chấp thuận. Trong quảng thời gian tu khổ hạnh, nhà sư Thích Trí Tịnh (tức Nguyễn Văn Bình) đọc được tạp chí Từ Bi Âm, nên có ý nguyện học thêm kinh luật. Vì vậy, cuối năm 1939, nhà sư xin phép thầy xuống núi. Đến Sài Gòn, nhà sư Thích Trí Tịnh cùng nhà sư Thiện Phước ra núi Thị Vải (nay thuộc Bà Rịa), tìm chỗ thích hợp để cất am tu (gần chùa Linh Sơn Bửu Thiền). Nhưng vì sơn lam chướng khí, nên chẳng mấy hôm, cả hai nhà sư đều bị bệnh sốt rét. Không kham nổi, hai người cùng xuống chân núi. nhà sư Thiện Phước thì tá túc nơi am của bà Năm, còn nhà sư Trí Tịnh thì tá túc nơi hang đá của bà Bảy. Vài hôm sau, nhà sư Thiện Phước tịch, nhà sư Trí Tịnh liền về Sài Gòn tá túc trong chùa Tịnh Độ ở Gò Vấp và tìm thầy trị bệnh. Sau khi hết bệnh, nghe theo lời khuyên, nhà sư khởi ý đi Huế để tu học. Trên đường đi, nhà sư có vào tu học tại chùa Liên Tôn ở Bình Định khoảng 3 tháng. Ra đến Huế, nhà sư được nhận vào học lớp Sơ cấp Phật học (và được cấp học bổng) tại chùa Tây Thiên. Đầu năm 1941, nhà sư Trí Tịnh thọ giới Sa di tại chùa Quốc Ân ở Huế. Sau đó, nhà sư tiếp tục học lên Trung đẳng Phật học (tốt nghiệp vào cuối năm 1942) và Cao đẳng Phật học (tốt nghiệp năm 1945). Cũng năm này (1945), trường An Nam Phật học dời vào Tòng Lâm Kim Sơn ở Huế, nhà sư Trí Tịnh được cử làm Giám viện Quản đốc trường.