Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Người / Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn

Loại
Người · artist

Thông tin nhanh

Danh xưng
Nhạc sĩ, một trong những nhạc sĩ lớn nhất VN
Ngày sinh
28 · 02 · 1939
Chuyên môn
  • Âm nhạc

Tiểu sử

Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) là một nam nhạc sĩ người Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của tân nhạc và nằm trong danh sách những nghệ sĩ âm nhạc Việt Nam có lượng đĩa bán chạy nhất. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc).Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly, danh ca gắn liền tên tuổi với hàng trăm ca khúc của ông và thế hệ sau là Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một diễn viên và một ca sĩ (ông từng biểu diễn một số bài hát do chính mình sáng tác). Ông từng là Hội viên Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập phụ san Thế Giới Âm Nhạc (Hội Nhạc sĩ Việt Nam).

Tiểu sử Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, nhưng có nguồn nói sinh năm 1940 tại Buôn Ma Thuột. Ông nguyên quán ở làng Minh Hương, xã Vĩnh Tri, thị xã Hương Trà, thành phố Huế, nhưng sinh tại xã Lạc Giao (nay là phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk). Gia đình cha mẹ ông đều gốc ở Thừa Thiên (Huế) nhưng lập nghiệp tại Darlac (Đắk Lắk), gia đình về buôn bán làm ăn tại Huế. Mẹ ông trước 1958 có một cửa hàng lớn tại đường Phan Bội Châu, nhưng về sau vì buôn bán lỗ nên phải đóng cửa ở nhà lo cho các con ăn học. Địa chỉ ở Huế ông từng ở là 11/3 đường Nguyễn Trường Tộ, Huế. Ông có hai em trai và năm em gái. Cha ông là ông Trịnh Xuân Thanh, là người có tư tưởng chống Pháp, đã từng đi tù vì chống Pháp, mất lúc Trịnh Công Sơn 16 tuổi. Mẹ ông là bà Lê Thị Quỳnh, mất năm 1991. Gia đình ông theo đạo Phật. Ông lớn lên tại Huế; lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français (nay là trường tiểu học Lê Lợi), Trường Pellerin Huế (học lớp 6-9) và Institut de la Providence (Trường Thiên Hựu) tại Huế, đỗ tú tài 1 nhưng trượt tú tài 2. Ông vào Sài Gòn học lại lớp 12, theo học ban triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau (nay là Trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn). Năm 1957, lúc đang học ở Sài Gòn, ông về Huế thăm nhà, ông bị một tai nạn khi đang tập võ judo với người em trai Trịnh Quang Hà, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế. Do bị tai nạn trên, ông phải ở nhà điều trị suốt 2 năm, nên không tốt nghiệp được Tú tài đệ nhị. Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy". Năm 1961, vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự nên ông theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn (1962-1964). Sau khi tốt nghiệp 1964, ông đi dạy tại một trường tiểu học, Trường Sơ học Bảo An, ở Bảo Lộc, Lâm Đồng từ 1964-1967. Năm 1967, do có lệnh điều động giáo viên phải nhập ngũ, Trịnh Công Sơn tìm cách trốn lính, trở về Sài Gòn. Ông ở cùng một số sinh viên trốn lính khác đã có mặt trong những căn nhà tiền chế ở khu đất rộng sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông gặp lại Khánh Ly, khởi đầu hát tại Quán Văn nằm trong khuôn viên trường Văn Khoa, sau đó ông và Khánh Ly trở nên nổi tiếng. Khi tiếng hát của Trịnh Công Sơn cất lên trong các giảng đường đại học ở Sài Gòn và Huế, với những "Ca khúc Da vàng", đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt trong xã hội. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngày đó đã phải ra lệnh cấm một số ca khúc và băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Ông càng trở nên nổi tiếng. Ông về Huế để tránh báo chí. Lưu Kim Cương, một Đại tá Không lực Việt Nam Cộng hòa đã giúp đỡ ông trong thời gian này. Năm 1968, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã gặp quân nhân miền Bắc trong Trận Mậu Thân tại Huế. Sau trận Mậu Thân ở Huế, ông vào Sài Gòn với sự trợ giúp của Lưu Kim Cương. Sau khi Lưu Kim Cương tử trận năm 1968, ông viết bài "Cho một người vừa nằm xuống" để tri ân. Vào những năm 1970, ông đã tham gia phong trào Tự quyết với Ngô Kha, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Chu Sơn và Thái Ngọc San. Ông làm giáo viên tại Thừa Thiên – Huế năm 1973-1974. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông tới Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn", rồi phát biểu trực tiếp sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Cụ thể như sau:

Sau đó, Trịnh Công Sơn hát "Nối vòng tay lớn", cùng với cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái và một số thanh niên, trên sóng phát thanh mà không cần nhạc đệm. Tuy nhiên, thông tin này không có sự thống nhất, khi trong những người Sài Gòn lúc đó có người đã nghe Trịnh Công Sơn hát với tiếng đàn nhưng cũng có người cho rằng ông hát mà không có đàn guitar. Đây là bài hát đầu tiên phát lên sóng của Đài phát thanh Sài Gòn sau thời khắc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau 30 tháng 4 năm 1975, thay vì theo gia đình di cư sang Mỹ, ông ở lại Việt Nam, về Huế, rồi đi vùng kinh tế mới trong 2 năm. Sau đó, ông quay lại làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Ông có quan hệ thân thiết với Cựu Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt. Năm 1978, ông Võ Văn Kiệt giới thiệu ông với Hội liên hiệp văn học nghệ thuật TP HCM, nhận ông vào biên chế chính thức. Từ đó, Trịnh Công Sơn được tạo điều kiện hòa nhập với đời sống nghệ sĩ, lấy lại niềm cảm hứng sáng tác. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại. Ông từng là Hội viên Hội Âm nhạc TP Hồ Chí Minh, hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập phụ san Thế Giới Âm Nhạc (Hội Nhạc sĩ Việt Nam). Ông ở tại căn nhà số 47C Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh. Sau đợt ốm nặng năm 2001, ông qua đời ngày 1 tháng 4 năm 2001 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Nguyên nhân cái chết là xơ gan, suy thận, tiểu đường, xuất huyết tiêu hoá, viêm phổi rất nặng.