Thông tin nhanh
- Ngày sinh
- 02 · 12 · 1939
Tiểu sử
Vũ Tuyên Hoàng (2 tháng 12 năm 1938 - 26 tháng 2 năm 2008) là Giáo sư, nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu, chính khách của Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa V, VI, VII và VIII; đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa VIII, XI và XII; Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam khóa IV và V; Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1989-1993. Ông là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Liên Xô (1988-1991); viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga (1991) và viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS) (1994).
Tiểu sử Vũ Tuyên Hoàng sinh ngày 2 tháng 12 năm 1938 tại Hà Nội, quê gốc tại Bắc Ninh. Từ năm 1955 đến năm 1960, Vũ Tuyên Hoàng học tập và tốt nghiệp đại học tại trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Từ năm 1961 đến năm 1968, ông là giảng viên, sau đó giữ chức trưởng Bộ môn Di truyền chọn giống cây trồng trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội. Năm 1969, ông làm nghiên cứu sinh đến năm 1973, bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ (nay là tiến sĩ) tại trường Đại học Nông nghiệp Krasnodar, Liên Xô. Năm 1973, ông về nước công tác tại Bộ Đại học và Trung học chuyên học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và đào tạo). Đến năm 1975, ông là thực tập sinh cao cấp tại trường Đại học Nông nghiệp, Krasnodar, Liên Xô và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (nay là tiến sĩ khoa học) vào năm 1977. Từ năm 1977 đến năm 1999, Vũ Tuyên Hoàng giữ chức các chức vụ: Viện trưởng Viện cây lương thực và cây thực phẩm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; từ năm 1989 đến năm 1993, ông là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Viện trưởng Viện di truyền nông nghiệp; từ năm 1978 đến năm 1995, là Chủ nhiệm các chương trình khoa học kỹ thuật Nhà nước về cây lương thực và cây thực phẩm; từ năm 1982 đến năm 1989, là Uỷ viên Hội đồng Giải thưởng Nhà nước Việt Nam. Từ 1989 đến 1999, là Chủ tịch Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp Việt Nam. Ông được phong hàm Giáo sư năm 1983. Ông đã đạt được các danh hiệu học thuật quốc tế: Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Liên Xô (1988-1991); Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga (1991); Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Thế giới (1994). Từ năm 1999 đến khi mất ông đảm nhiệm các chức vụ: Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản, Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam. Vũ Tuyên Hoàng là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa V (dự khuyết), VI, VII và VIII, đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam các khoá VIII, XI và XII, uỷ viên Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia của Chính phủ Việt Nam. Vũ Tuyên Hoàng còn là Chủ tịch Hội các ngành Sinh học Việt Nam từ năm 1986; Chủ tịch Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam khóa IV (1999 - 2004), khóa V (2004 - 2009); Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam; Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Nhật Bản (1988 - 2008); Chủ nhiệm Chương trình Khoa học Kỹ thuật Nhà nước về Cây lương thực (1978 - 1995); Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khoá V, VI. Ông mất năm 2008 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô Hà Nội vì bệnh tiểu đường.
Sự nghiệp Vũ Tuyên Hoàng là một trong những nhà khoa học nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam. Ông là tác giả lý thuyết của hai hệ thống gen trong cây lúa, tác giả của các giống lúa mới chịu hạn, chịu úng, giàu prôteein và một số giống cây ăn quả. Từ năm 1978 đến khi mất, ông đã có hơn 50 công trình được công nhận cấp quốc gia bao gồm: các giống lúa mới thâm canh, các giống lúa chịu hạn , các giống lúa chịu ngập úng đầu tiên trên thế giới , các giống lúa thâm canh có hàm lượng prôtêin trong gạo cao (10,5 - 11%) đầu tiên trên thế giới ..., các giống khoai lang mới. Ông cũng là người đưa ra quy trình kỹ thuật trồng khoai tây bằng hạt; chọn tạo các giống rau quả mới bằng phương pháp sử dụng ưu thế lai: dưa chuột, cà chua, các giống táo mới; tạo giống ổi trắng số 1; lai tạo giống vịt mới Bạch Tuyết...; xây dựng các quy trình kỹ thuật thâm canh, gieo thẳng lúa ở phía Bắc Việt Nam; thâm canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Ông còn dành nhiều thời gian nghiên cứu cho chuyển một số giống lúa mùa trồng vụ chiêm sang vụ đông xuân, tạo ra cơ sở khoa học kỹ thuật cho vụ lúa đông xuân mới ở Bắc Việt Nam (1961-1966). Vũ Tuyên Hoàng đã có hơn 200 công trình khoa học đã công bố. Ngoài các hoạt động sáng tạo khoa học kỹ thuật, Vũ Tuyên Hoàng còn có những sáng tác về văn học nghệ thuật mang bản sắc riêng. Các tác phẩm văn học nghệ thuật của ông gồm có: tập thơ Thời gian (2001) và 20 tập thơ in chung; 400 bài tản văn đăng trên tạp chí Thế giới mới (1996-2004)... Ông còn vẽ chân dung, phong cảnh đăng tải trên một số tạp chí và tham gia một số triển lãm mỹ thuật. Ông được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Lao động hạng Nhất và hạng Ba; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba; truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2020). Ông cũng đạt Giải nhất giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ Vifotec (1997); Giải thưởng lúa thế giới lần thứ nhất (1998) Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ với công trình Chọn tạo các giống lúa mới cho một số vùng sinh thái.
Vinh danh Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học Công nghệ (2000). Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2020).
Danh hiệu học thuật Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học nông nghiệp Liên Xô (1988-1991); Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga (1991); Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (1994);
Khen thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì. Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Ba. Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba.
Giải thưởng khoa học Giải nhất Giải thưởng sáng tạo khoa học công nghệ (Vifotec) (1997); Giải thưởng lúa thế giới lần thứ nhất (1998).
Công trình khoa học chính Có hơn 50 công trình được công nhận cấp quốc gia Có hơn 200 công trình khoa học đã công bố