Nhân Hiệu SốNhân Hiệu Số
Trang chủ / Tổ chức / Vietnam Airlines

Vietnam Airlines

Vietnam Airlines
Loại
Tổ chức · enterprise

Thông tin nhanh

Năm thành lập
1956
Trụ sở
Hà Nội, VN
Ngành
  • Hàng không

Tiểu sử

Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam, cũng được biết đến với tên giao dịch quốc tế là Vietnam Airlines (VNA), là hãng hàng không quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành phần cốt lõi cấu thành nên Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Vốn nhà nước chiếm 86,34%, trong khi cổ đông chiến lược là All Nippon Airways nắm giữ 5,62% cổ phần của Vietnam Airlines. Hãng hàng không này được quản lý bởi 1 Hội đồng Quản trị gồm từ 5 đến 9 thành viên, nhiệm kỳ 5 năm, và hiện đang khai thác hơn 50 đường bay thường lệ với tổng cộng hơn 360 chuyến bay mỗi ngày đến khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Âu, châu Đại Dương và châu Mỹ. Trụ sở chính của hãng được đặt tại Sân bay quốc tế Nội Bài. Vietnam Airlines là cổ đông chiếm tỷ lệ cổ phần lớn nhất trong Pacific Airlines với tỷ lệ nắm giữ cổ phần là 98%. Hãng cũng đồng thời sở hữu 1 hãng bay nhỏ chuyên khai thác các chặng bay nội địa ngắn là Công ty Bay Dịch vụ Hàng Không VASCO. Trước đây, hãng từng nắm giữ 49% cổ phần của Cambodia Angkor Air, hãng hàng không quốc gia Campuchia, nhưng đã thoái vốn vào năm 2022 như một giải pháp để cứu vãn tình trạng tài chính khó khăn do đại dịch COVID-19. Hãng đã đạt được danh hiệu 4 sao theo tiêu chuẩn của Skytrax. Vào ngày 10 tháng 6 năm 2010, Vietnam Airlines đã chính thức gia nhập liên minh SkyTeam, trở thành hãng hàng không đầu tiên của Đông Nam Á gia nhập liên minh này. Tính trong 6 tháng đầu năm 2023, Vietnam Airlines đã vận chuyển 2,777,570 lượt hành khách quốc tế (chiếm 19,01% thị phần hành khách quốc tế; nếu chỉ xét riêng các hãng hàng không Việt Nam thì hãng chiếm 40,12%) và 6,971,917 lượt hành khách nội địa (chiếm 33.05% thị phần hành khách nội địa). Nếu tính cả số khách được vận chuyển bởi các hãng con là Pacific Airlines và VASCO, con số này lần lượt là 20,01% và 42,07%.

Lịch sử

Giai đoạn khởi đầu (1956 - 1993)

Lịch sử của Hãng bắt đầu vào ngày 15/01/1956, khi chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập Cục Hàng không Dân dụng, đánh dấu sự ra đời của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam. Năm đó, phi đội của hãng chỉ có 2 chiếc máy bay Lisunov Li-2, được hỗ trợ từ Liên Xô và Trung Quốc để phục vụ các mục đích dân sự. Sau đó, Hàng không Việt Nam đã thay thế các máy bay đó bằng 2 chiếc Ilyushin Il-14 và 3 chiếc Aero Ae-45. Do lệnh cấm vận từ phía Hoa Kỳ, Hàng không Việt Nam không được phép thuê hoặc mua các công nghệ và linh kiện từ Mỹ, dẫn đến đội tàu bay của hãng chỉ sử dụng các máy bay do Liên Xô và Trung Quốc sản xuất trong giai đoạn đầu.

Sự phát triển của hàng không dân dụng Việt Nam đã bị cản trở nghiêm trọng do ảnh hưởng của Chiến tranh Việt Nam (1954-1975). Năm 1976, khi chiến tranh kết thúc, hãng bắt đầu mở các tuyến bay quốc tế. Đầu tiên là chặng bay đến Bắc Kinh, Trung Quốc, sau đó là chặng bay đến Viêng Chăn, Lào. Thời điểm đó, hãng lấy tên là Tổng Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam (General Department of Civil Aviation in Vietnam), vận hành dịch vụ hàng không đầy đủ (full operations). Hãng đã chở được khoảng 21.000 hành khách (trong đó khoảng 1/3 là hành khách trên các chuyến bay quốc tế cùng với 3.000 tấn hàng hóa. Năm 1978, hãng đã mở rộng phạm vi hoạt động với một điểm đến mới là Bangkok, Thái Lan. Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, hãng đã mở thêm các đường bay mới tới Hồng Kông, Kuala Lumpur, Manila và Singapore.

Trong năm 1990, hãng bắt đầu xúc tiến các cuộc đàm phán để đưa các máy bay do phương Tây chế tạo vào đội bay của mình. Tuy nhiên, cuối năm đó, hãng phải từ bỏ việc mua 2 chiếc máy bay Airbus A310 do các máy bay này sử dụng động cơ do Mỹ sản xuất. Tháng 7 năm 1991, hãng đã ký hợp đồng thuê ướt máy bay Boeing 737-300 từ công ty cho thuê TransAvia của Hà Lan. Tuy nhiên, hãng phải trả lại máy bay do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gây áp lực buộc bên cho thuê Hà Lan phải đưa máy bay ra khỏi Việt Nam. Sau đó, Vietnam Airlines đã đàm phán với TEA Basle một hợp đồng thuê ướt máy bay tương tự có các điều khoản phức tạp hơn. Bên cho thuê cũng đứng ra đàm phán với chính quyền Hoa Kỳ trong suốt năm 1991. Cuối cùng, thỏa thuận này được chấp thuận nhưng với điều kiện chiếc Boeing 737 phải được đỗ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và không có logo hoặc tên gọi của hãng hàng không Việt Nam. Tháng 12 năm 1991, hãng cùng Cathay Pacific thỏa thuận thành lập một liên doanh hàng không để khai thác đường bay giữa Hồng Kông và Việt Nam, vì đội bay Tupolev Tu-134 của hãng không đáp ứng được các điều kiện hạn chế tiếng ồn của sân bay Kai Tak.

Tháng 10 năm 1992, chiếc Boeing 737-300 được thay thế bằng một chiếc Airbus A310. Tuy nhiên, do không đạt được thỏa thuận về việc bên nào sẽ phải trả tiền sửa chữa động cơ máy bay bị hỏng nên hãng đã thuê một chiếc A310 khác từ GATX, cũng do Jes Air vận hành. Một tranh chấp tương tự khi thuê máy bay của United Technologies đã khiến hãng hàng không Việt Nam chuyển từ dòng máy bay Airbus sang Boeing. Tháng 1 năm 1993, hãng tiếp nhận chiếc máy bay Boeing 767-200ER được thuê từ Ansett Worldwide Aviation Services (AWAS), và sang năm sau là một chiếc Boeing 767-300ER của Royal Brunei Airlines. Vào tháng 10 năm 1993, hãng tiếp nhận máy bay Airbus A320-200 đầu tiên theo hợp đồng thuê 2 năm với Air France. Hãng hàng không Pháp đã đồng ý cho hãng thuê các máy bay Airbus, đồng thời cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng, đào tạo phi công và phi hành đoàn. Thời điểm đó, hãng đã mở rộng mạng bay tới Paris, Tokyo, Seoul, Sydney và Melbourne. Năm 1993, hãng đã vận chuyển 1,06 triệu hành khách, trong đó có 418.000 khách trên các chuyến bay quốc tế.